BÁO CÁO THAM LUẬN
Khó khăn, vướng mắc của TPL trong hoạt động
tổ chức thi hành án dân sự
Chu Thị Ngọc Duyên – Trưởng VPTPL Bến Cát
Chủ trương xã hội hóa một số hoạt động tư pháp đã được Đảng, Nhà nước ta đề ra từ rất sớm, đặc biệt tại Nghị Quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, một lần nữa, chủ trương này được xác định rõ và chỉ đạo triển khai thực hiện như sau: “Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình…từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án dân sự; nghiên cứu chế định Thừa phát lại, trước mắt có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước tiếp theo”.
Thể chế hóa chủ trương của Đảng, ngày 14/11/2008, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 24/2008/QH11 về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó đã giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương. Thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (Sau đây gọi tắt là nghị định số 61/2009/NĐ-CP). Trên cơ sở kết quả thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23/11/2012, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại đến hết ngày 31/12/2015, trong đó, giao Chính phủ tiếp tục tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ngày 25/3/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 510/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” và chỉ đạo Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ, ngành liên quan triển khai thực hiện. Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 về sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (Sau đây gọi tắt là nghị định số 135/2013/NĐ-CP). Bộ Tư pháp đã thống nhất ý kiến với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính lựa chọn thêm 12 địa phương thực hiện thí điểm, ngoài thành phố Hồ Chí Minh, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, An Giang và Vĩnh Long.
Để chính thức phát triển Thừa phát lại ở nước ta, ngày 26/11/2015, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiện chế định Thừa phát lại, chấm dứt việc thực hiện thí điểm và cho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016.
Trong quá trình triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước, ngày 08/01/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại (Sau đây gọi tắt là Nghị định 08/2020/NĐ-CP). Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 24/02/2020; Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 74. của Nghị định này.
Sau khi Nghị định 08/2020/NĐ-CP ra đời, Bộ Tư pháp đã ban hành một số văn bản hướng dẫn thi hành nghị định 08/2020/NĐ-CP như sau:
+ Thông tư số 05/2020/TT-BTP ngày 28/8/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP (Sau đây gọi tắt là Thông tư số 05/2020/TT-BTP). Thông tư 05/2020/TT-BTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/10/2020; Thông tư số 12/2014/TT-BTP ngày 26 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về mẫu; nguyên tắc sử dụng trang phục; nguyên tắc cấp phát, sử dụng Thẻ Thừa phát lại hết hiệu lực, kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực;
+ Thông tư 08/2022/TT-BTP ngày 01/11/2022 của Bộ Tư pháp về quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại (có hiệu lực ngày 22/12/2022) (Sau đây gọi tắt là Thông tư số 08/2022/TT-BTP);
+ Thông tư 03/2024/TT-BTP ngày 15/5/2024 của Bộ Tư pháp Sửa đổi, bổ sung 08 thông tư liên quan đến thủ tục hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp (trong đó có Thông tư số 05/2020/TT-BTP ngày 28/8/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP) (Sau đây gọi tắt là Thông tư số 03/2024/TT-BTP).
Theo quy định hiện hành, Thừa phát lại là một nghề độc lập, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Mặc dù không phải là nhân viên nhà nước, nhưng Thừa phát lại được Nhà nước bổ nhiệm, trao quyền để thực hiện một số công việc. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Thừa phát lại có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Hoạt động của Thừa phát lại chịu sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thừa phát lại được thực hiện 04 loại công việc, gồm:
- Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
- Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định này.
- Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
- Tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
Trong 04 loại công việc trên, thì có đến 03 loại việc liên quan trực tiếp đến thi hành án dân sự, đó là tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự; xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Qua 15 năm thực hiện chế định Thừa phát lại, hoạt động Thừa phát lại bước đầu đã tạo lập một nghề mới cung cấp dịch vụ pháp lý và là bước đầu tiên thực hiện xã hội hóa hoạt động Thi hành án dân sự; hoạt động Thừa phát lại không ngừng lớn mạnh (tăng về số lượng và chất lượng); vị trí, vai trò của Thừa phát lại ngày càng được khẳng định và nâng cao; Thừa phát lại được người dân, doanh nghiệp đón nhận tích cực và có nhiều đóng góp cho hoạt động xét xử và thi hành án. Sau hơn 04 năm thực hiện Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, hoạt động Thừa phát lại tiếp tục có những chuyển biến tích cực, số lượng VPTPL được thành lập tăng mạnh, đội ngũ Thừa phát lại không ngừng lớn mạnh, loại việc mà Thừa phát lại cung cấp ngày càng đa dạng, phong phú, chất lượng dịch vụ được nâng cao. Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trình tự thủ tục tổ chức thi hành án dân sự của Thừa phát lại. Tuy nhiên, trên thực tế, người dân ít sử dụng các dịch vụ này. Từ năm 2020 đến nay, Thừa phát lại hầu như không thực hiện công việc tổ chức thi hành án dân sự, kể cả xác minh điều kiện THA. Theo tôi, nguyên nhân lớn nhất của vấn đề này là do vương về thể chế (quy định pháp luật). Trong báo cáo này, chúng tôi xin phép phân tích về những quy định của pháp luật về tổ chức thi hành án của Thừa phát lại; thực tiễn hoạt động tổ chức thi hành án, qua đó phân tích, làm rõ những khó khăn, vướng mắc của Thừa phát lại trong hoạt động tổ chức thi hành án và có một số đề xuất, kiến nghị.
- Quy định của pháp luật về tổ chức thi hành án của Thừa phát lại:
1.1. Thẩm quyền tổ chức thi hành án:
Tại Điều 51 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định về thẩm quyền tổ chức thi hành án của Thừa phát lại như sau:
Điều 51. Thẩm quyền tổ chức thi hành án của Thừa phát lại
- Thừa phát lại được quyền tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định sau đây:
- a) Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là Tòa án nhân dân cấp huyện); bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi VPTPL đặt trụ sở;
- b) Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi VPTPL đặt trụ sở đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện; bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định sơ thẩm, chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi VPTPL đặt trụ sở;
- c) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi VPTPL đặt trụ sở.
- Thừa phát lại không tổ chức thi hành phần bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự.
Như vậy, có thể khẳng định TPL chỉ có thẩm quyền tổ chức thi hành án đối với bản án, quyết định của Tòa án, không có thẩm quyền tổ chức thi hành án đối với phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại và quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Mặt khác, thẩm quyền tổ chức thi hành án của TPL rộng hơn so với trước đây. Hiện nay, TPL không chỉ có thẩm quyền tổ chức thi hành bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực của TAND cấp huyện nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở mà còn có thẩm quyền tổ chức thi hành án đối với bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực của TAND cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở và bản án, quyết định phúc thẩm của TAND cấp cao đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của TAND cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở.
Tuy nhiên, Thừa phát lại chỉ được quyền tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự (trừ những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật (được thi hành ngay theo khoản 2 Điều 2 Luật THADS); không tổ chức thi hành phần bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 36 của Luật THADS.
So với quy định tại Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số số 135/2013/NĐ-CP thì thẩm quyền tổ chức thi hành án của Thừa phát lại được quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP rộng hơn.
Trước đây, tại Điều 34 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số số 135/2013/NĐ-CP quy định thẩm quyền, phạm vi thi hành án của Thừa phát lại như sau:
Điều 34. Thẩm quyền, phạm vi thi hành án của Thừa phát lại
- Thừa phát lại được quyền trực tiếp tổ chức thi hành theo đơn yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định:
- a) Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực của Tòa án cấp huyện nơi Thừa phát lại đặt văn phòng;
- b) Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi Thừa phát lại đặt văn phòng;
- c) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện nơi Thừa phát lại đặt văn phòng.
2.[1] Thừa phát lại có thể tổ chức thi hành các vụ việc quy định tại khoản 1 Điều này ngoài địa bàn quận, huyện nơi đặt VPTPL nếu đương sự có tài sản, cư trú hay có các điều kiện khác ngoài địa bàn quận, huyện nơi đặt VPTPL. Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện trong trường hợp Thừa phát lại thi hành án theo thẩm quyền liên quan đến tài sản phát sinh ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt VPTPL.
Theo đó, Thẩm quyền tổ chức thi hành án của Thừa phát lại trước đây là tương đương với Chi cục Thi hành án dân sự nơi VPTPL đặt trụ sở (đối với loại việc theo yêu cầu) => nay mở rộng thêm thẩm quyền tổ chức thi hành các bản án, quyết định (đối với loại việc theo yêu cầu) thuộc thẩm quyền tổ chức thi hành án của Cục thi hành án dân sự (Tức là tương đương với thẩm quyền tổ chức thi hành án của Chi cục Thi hành án dân sự).
1.2. Về đề nghị ra quyết định thi hành án:
Tại Điều khoản 1, 2, 5 Điều 55 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định về ra quyết định thi hành án như sau:
Điều 55. Quyết định thi hành án
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ, Trưởng VPTPL căn cứ vào nội dung hợp đồng dịch vụ và thẩm quyền thi hành án quy định tại Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự hoặc Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự nơi VPTPL đặt trụ sở ra quyết định thi hành án theo thẩm quyền. Văn bản đề nghị phải kèm theo đơn yêu cầu thi hành án theo ủy quyền, bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và các tài liệu có liên quan.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Trưởng VPTPL, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải xem xét, ra quyết định thi hành án; trường hợp không ra quyết định thi hành án thì phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do.
- Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, VPTPL đã đề nghị phải gửi quyết định thi hành án đó cho người được thi hành án, người phải thi hành án, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện (nếu vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án cấp huyện) hoặc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (nếu vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án cấp tỉnh) nơi VPTPL đặt trụ sở.
=> Theo đó, Trưởng VPTPL không có thẩm quyền ra quyết định thi hành án mà sẽ căn cứ vào nội dung hợp đồng dịch vụ và thẩm quyền thi hành án quy định tại Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự hoặc Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự nơi VPTPL đặt trụ sở ra quyết định thi hành án theo thẩm quyền. Văn bản đề nghị phải kèm theo đơn yêu cầu thi hành án theo ủy quyền, bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và các tài liệu có liên quan. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Trưởng VPTPL, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải xem xét, ra quyết định thi hành án; trường hợp không ra quyết định thi hành án thì phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do.
Trước đây, theo quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số số 135/2013/NĐ-CP thì Trưởng VPTPL có thẩm quyền ra quyết định thi hành án, tuy nhiên, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP không quy định thẩm quyền này cho Trưởng VPTPL mà thẩm quyền ra quyết định thi hành án thuộc về Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự hoặc Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự nơi VPTPL đặt trụ sở.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chịu trách nhiệm trước pháp luật, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc ra hoặc không ra quyết định thi hành án theo đề nghị của Trưởng VPTPL. Thừa phát lại chịu trách nhiệm trước pháp luật, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc đề nghị ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành quyết định thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.
1.3. Trình tự, thủ tục tổ chức thi hành án
Nghị định số 08/2020/NĐ-CP đã có nhiều quy định thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại so với quy định tại Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số số 135/2013/NĐ-CP trước đây. Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành án của Thừa phát lại khi tổ chức thi hành án thì lại có phần hạn chế và khó khăn hơn quy định trước đây, cụ thể:
– Về nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành án của Thừa phát lại:
Tại Điều 52 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định về nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành án của Thừa phát lại:
Điều 52. Nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành án của Thừa phát lại
- Khi tổ chức thi hành án, Thừa phát lại có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- a) Thực hiện kịp thời, đúng nội dung quyết định thi hành án được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ban hành theo đề nghị của Trưởng VPTPL; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- b) Mời đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án;
- c) Kiến nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành theo đề nghị của Trưởng VPTPL;
- d) Xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án.
- Khi tổ chức thi hành án, Thừa phát lại không được thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- a) Áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 66, Điều 71, Điều 72 của Luật Thi hành án dân sự;
- b) Sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định tại khoản 9 Điều 20 của Luật Thi hành án dân sự;
- c) Xử phạt vi phạm hành chính;
- d) Yêu cầu Tòa án xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án theo quy định tại Điều 74 của Luật Thi hành án dân sự;
đ) Yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 75 của Luật Thi hành án dân sự;
- e) Các quyền yêu cầu Tòa án xác định người có quyền sở hữu, sử dụng tài sản, giấy tờ tạm giữ; xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản; yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản; giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 68, khoản 3 Điều 69 và khoản 2 Điều 102 của Luật Thi hành án dân sự.
=> Theo đó, khi tổ chức thi hành án Thừa phát lại có các nhiệm vụ, quyền hạn bao gồm: mời đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án; kiến nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành; xác minh điều kiện thi hành án; vận động, thuyết phục đương sự thực hiện tự nguyện thi hành án; tổ chức cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện thỏa thuận thi hành án; thanh toán tiền THA và chấm dứt việc THA.
– Về chấm dứt việc thi hành án của Thừa phát lại (Điều 57 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP):
Tại Điều 57 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định về chấm dứt việc thi hành án của Thừa phát lại như sau:
Điều 57. Chấm dứt việc thi hành án của Thừa phát lại
Thừa phát lại chấm dứt thi hành án và phải thông báo cho Chi cục Thi hành án dân sự hoặc Cục Thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án về việc chấm dứt thi hành án trong các trường hợp sau đây:
- Việc thi hành án đương nhiên kết thúc theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;
- Theo thỏa thuận giữa Thừa phát lại và đương sự, trừ trường hợp việc chấm dứt làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba;
- Trường hợp phải áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự;
- Thừa phát lại tổ chức thi hành án mà phát sinh điều kiện thi hành án nằm ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi VPTPL đặt trụ sở;
- Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo quy định tại khoản 1 Điều 74 của Luật Thi hành án dân sự và người phải thi hành án không còn tài sản nào khác;
- Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch liên quan đến tài sản là vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 75 của Luật Thi hành án dân sự và người phải thi hành án không còn tài sản nào khác;
- Các trường hợp phải yêu cầu Tòa án xác định người có quyền sở hữu, sử dụng tài sản, giấy tờ tạm giữ; xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản; yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản; giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 68, khoản 3 Điều 69, khoản 2 Điều 102 của Luật Thi hành án dân sự và người phải thi hành án không còn tài sản nào khác.
Tương ứng với sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP cũng bổ sung thêm một số trường hợp chấm dứt việc thi hành án, bao gồm các trường hợp phát sinh những vấn đề không thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại đã nêu trên.
– Tại Điều 58 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định về hậu quả pháp lý khi chấm dứt việc thi hành án như sau:
Điều 58. Hậu quả pháp lý khi chấm dứt việc thi hành án
- Khi chấm dứt việc thi hành án, VPTPL và người yêu cầu thi hành án phải thanh lý hợp đồng dịch vụ về thi hành án. Trong quá trình thanh lý hợp đồng và giải quyết các vấn đề phát sinh, nếu có tranh chấp thì các bên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền, tài sản còn tồn đọng không có người nhận thì VPTPL xử lý theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và pháp luật dân sự về tài sản vắng chủ.
Đối với các vụ việc chưa thi hành xong, đương sự có quyền tiếp tục yêu cầu thi hành án theo quy định tại Điều 53 của Nghị định này.
- Trường hợp chấm dứt việc thi hành án theo khoản 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 57 của Nghị định này, trước khi thanh lý hợp đồng, Trưởng VPTPL phải thực hiện các nội dung sau đây:
- a) Ra quyết định hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thu hồi các quyết định, thông báo, văn bản về thi hành án chưa thực hiện xong;
- b) Chuyển toàn bộ hồ sơ thi hành án sang cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự;
- c) Thông báo bằng văn bản cho đương sự về việc đã chuyển hồ sơ và người yêu cầu thi hành án có quyền tiếp tục yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.
- Trường hợp chấm dứt việc thi hành án theo quy định tại Điều 57 của Nghị định này, trước khi thanh lý hợp đồng, Trưởng VPTPL phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện (nếu vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án cấp huyện) hoặc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (nếu vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án cấp tỉnh) nơi VPTPL đặt trụ sở về việc chấm dứt việc thi hành án và việc đã chuyển hồ sơ sang cơ quan thi hành án dân sự.
- Trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự như sau:
- a) Tiếp nhận hồ sơ thi hành án do VPTPL chuyển;
- b) Tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án của đương sự, ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 56 của Nghị định này;
- c) Công nhận và sử dụng kết quả thi hành án trước đó do Thừa phát lại thực hiện khi vụ việc được tiếp tục thi hành nếu kết quả đó có được không do vi phạm pháp luật.
Khi chấm dứt việc thi hành án, VPTPL và người yêu cầu thi hành án phải thanh lý hợp đồng dịch vụ về thi hành án. Trong quá trình thanh lý hợp đồng và giải quyết các vấn đề phát sinh, nếu có tranh chấp thì các bên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với các vụ việc chưa thi hành xong, đương sự có quyền tiếp tục yêu cầu thi hành án theo quy định tại Điều 53 của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.
Tại khoản 8 Điều 74 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: đối với những vụ việc thi hành án dân sự VPTPL đã thụ lý nhưng chưa thi hành xong trước ngày Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có hiệu lực mà phát sinh các trường hợp quy định tại điểm a, d, đ và e khoản 2 Điều 52 của Nghị định này thì phải chấm dứt thi hành án theo quy định tại Điều 57 và thực hiện theo quy định tại Điều 58 của Nghị định này.
Theo quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP: Điều 56 quy định thủ tục chung về thi hành án của Thừa phát lại, tại khoản 1 Điều 56 quy định: “Thừa phát lại thực hiện các thủ tục về thi hành án theo quy định của Nghị định này và pháp luật thi hành án dân sự”; Điều 55 quy định về quyết định thi hành án; Điều 57 quy định về chấm dứt việc thi hành án của Thừa phát lại và Điều 58 quy định hậu quả pháp lý khi chấm dứt việc thi hành án. Các nội dung khác: hoãn, tiếp tục, tạm đình chỉ và đình chỉ thi hành án hay chưa có điều kiện thi hành án, nghị định không quy định cụ thể. Tại phụ lục III danh mục biểu mẫu về nghiệp vụ của Thừa phát lại ban hành kèm theo Thông tư số 05/2020/TT-BTP có các biểu mẫu: Quyết định hoãn thi hành án; Quyết định tạm đình chỉ thi hành án; Quyết định đình chỉ thi hành án và một số biểu mẫu nghiệp vụ khác (không có biểu mẫu Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án). Theo đó, Trưởng VPTPL cũng không có thẩm quyền ra các quyết định khác về thi hành án như: Quyết định hoãn thi hành án; Quyết định tạm đình chỉ thi hành án; Quyết định đình chỉ thi hành án mà thẩm quyền ra quyết định thi hành án thuộc về Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự hoặc Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự nơi VPTPL đặt trụ sở theo đề nghị của Trưởng VPTPL (tương tự như thẩm quyền ra quyết định thi hành án).
* Như vậy, có thể thấy nhiệm vụ, quyền hạn khi tổ chức thi hành án của Thừa phát lại bị thu hẹp rất nhiều so với trước đây. Nếu như tại Điều 38, 39, 40, 41 của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số số 135/2013/NĐ-CP quy định và cho phép Thừa phát lại được áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án (chỉ bị hạn chế khi áp dụng biện cưỡng chế có huy động lực lượng bảo vệ thì phải báo cáo xin ý kiến Ban chỉ đạo THADS và có Quyết định cưỡng chế của Cục trưởng Cục THADS), thì theo quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Thừa phát lại không có các quyền này. Tương tự như vậy, TPL cũng không còn các quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, hủy bỏ giấy tờ giao dịch, xác định người có quyền sở hữu, sử dụng; xác định phân chia, xử lý tài sản chung, tuyên bố giao dịch vô hiệu,… (quyền như Chấp hành viên theo quy định tại Điều 20, 74, 75 Luật THADS; Điều 24 Nghị định 6/2015/NĐ-CP). Ngoài ra, theo quy định hiện hành thì TPL chỉ có quyền “mời” đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án mà không có quyền “triệu tập” những người này như Chấp hành viên hoặc chỉ có quyền “đề nghị” cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu để xác minh điều kiện THA mà không có quyền “yêu cầu” như Chấp hành viên (nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại bị hạn chế rất nhiều so với trước đây).
Đối với trưởng VPTPL: trước đây, Trưởng VPTPL có thẩm quyền ra quyết định thi hành án thì nay không có thẩm quyền này, thay vào đó là đề nghị Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự hoặc Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự nơi VPTPL đặt trụ sở ra quyết định thi hành án theo thẩm quyền; tương tự thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại về thi hành án dân sự, trước đây Trưởng VPTPL giải quyết khiếu nại lần đầu đối với khiếu nại về hành vi, quyết định của Thừa phát lại thuộc Văn phòng mình trong thời hạn 15 ngày, thì nay không có thẩm quyền này,…
=> Nội dung quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có sự thay đổi lớn liên quan đến hoạt động tổ chức thi hành án của Thừa phát lại đó là nhiệm vụ, quyền hạn khi tổ chức thi hành án của TPL bị hạn chế rất nhiều so với trước đây (đặc biệt là khi tổ chức thi hành án, Thừa phát lại không được áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án). Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến đến hoạt động tổ chức thi hành án của Thừa phát lại (điển hình là sau khi có Nghị định số 08/2020/NĐ-CP đến nay thì hoạt động tổ chức thi hành án của Thừa phát lại gần như bằng không (không phát sinh). Cho thấy những quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức thi hành án của Thừa phát lại, trên thực tiễn là không khả thi.
– Việc phối hợp giữa VPTPL và cơ quan thi hành án dân sự:
Trong quá trình tổ chức thi hành án, giữa VPTPL (TPL) và cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với nhau trong một số hoạt động như:
+ Ra các quyết định về THA: Quyết định thi hành án, Quyết định hoãn thi hành án; Quyết định tạm đình chỉ thi hành án; Quyết định đình chỉ thi hành án;
+ Xác minh điều kiện THA: người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại để yêu cầu thi hành án hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Cơ quan thi hành án dân sự, VPTPL có thẩm quyền thi hành án căn cứ kết quả xác minh để tổ chức thi hành án (quy định tại khoản 1 Điều 48);
+ Chuyển vụ việc từ cơ quan thi hành án dân sự sang VPTPL và ngược lại (đối với các vụ việc chưa thi hành xong, đương sự có quyền tiếp tục yêu cầu thi hành án theo quy định tại Điều 53 của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP).
+ Thanh toán tiền thi hành án (Điều 59);
+ Giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự.
1.4. Việc phối hợp của cá nhân, cơ quan, tổ chức với Thừa phát lại, VPTPL trong hoạt động tổ chức thi hành án:
Tại Điều 5, Điều 50, Điều 60 của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định:
Điều 5. Phối hợp của cá nhân, cơ quan, tổ chức với Thừa phát lại, VPTPL
- Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, cá nhân, cơ quan, tổ chức phối hợp với Thừa phát lại, VPTPL trong việc thực hiện các công việc của Thừa phát lại theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan; không được tiết lộ thông tin về việc thực hiện công việc của Thừa phát lại, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
- Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của Thừa phát lại, VPTPL, từ chối trái pháp luật yêu cầu của Thừa phát lại hoặc tiết lộ thông tin về việc thực hiện công việc của Thừa phát lại đều bị xử lý theo quy định của pháp luật và phải bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định của pháp luật.
Điều 50. Phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án
- Công chức tư pháp – hộ tịch, địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường, cán bộ, công chức cấp xã khác, cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức tín dụng, cơ quan đăng ký đất đai, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, tổ chức hành nghề công chứng và các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án phối hợp, hỗ trợ Thừa phát lại trong xác minh điều kiện thi hành án; phối hợp cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án ký vào biên bản khi Thừa phát lại xác minh trực tiếp hoặc cung cấp thông tin bằng văn bản theo đề nghị của Thừa phát lại trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị, trường hợp từ chối cung cấp phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do.
Văn bản cung cấp thông tin bao gồm các nội dung sau đây: Thời điểm cung cấp thông tin; nội dung thông tin cung cấp theo đề nghị trong phạm vi, thẩm quyền của Thừa phát lại quy định tại Nghị định này.
- Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định của pháp luật.
Điều 60. Trách nhiệm của các cơ quan trong việc thi hành án
- Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm sau đây:
- a) Chi cục Thi hành án dân sự hoặc Cục Thi hành án dân sự nơi VPTPL đặt trụ sở có trách nhiệm ra quyết định thi hành án theo đề nghị của VPTPL; chuyển giao quyết định thi hành án cho VPTPL đã đề nghị trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định.
Cục Thi hành án dân sự nơi VPTPL đặt trụ sở có trách nhiệm hỗ trợ việc thi hành án của VPTPL, hướng dẫn việc phối hợp trong thi hành án giữa các Chi cục Thi hành án dân sự với VPTPL và giữa các VPTPL trên địa bàn;
- b) Chi cục Thi hành án dân sự hoặc Cục Thi hành án dân sự có trách nhiệm phối hợp với các VPTPL trong việc xác minh điều kiện thi hành án và thanh toán tiền thi hành án theo quy định.
- Cơ quan bảo hiểm xã hội, Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng phối hợp cung cấp thông tin và hỗ trợ Thừa phát lại, VPTPL trong việc xác minh điều kiện thi hành án theo quy định của Nghị định này và pháp luật thi hành án dân sự.
- Cơ quan đăng ký tài sản, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có trách nhiệm sau đây:
- a) Thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản, người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án;
- b) Thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ đó theo quy định của pháp luật.
Theo đó, tại Điều 5 quy định trách nhiệm phối hợp của cá nhân, cơ quan, tổ chức (nói chung), trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, phối hợp với Thừa phát lại, VPTPL trong việc thực hiện các công việc của Thừa phát lại (bao gồm: tống đạt, xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành án và lập vi bằng); Điều 50 quy định trách nhiệm của một số cá nhân, tổ chức, bao gồm: Công chức tư pháp – hộ tịch, địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường, cán bộ, công chức cấp xã khác, cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức tín dụng, cơ quan đăng ký đất đai, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, tổ chức hành nghề công chứng và các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án phối hợp, hỗ trợ Thừa phát lại trong xác minh điều kiện thi hành án; phối hợp cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp; khoản 1 Điều 60 quy định trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự; khoản 2 Điều 60 quy định trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm xã hội, Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng phối hợp cung cấp thông tin và hỗ trợ Thừa phát lại, VPTPL trong việc xác minh điều kiện thi hành án; cơ quan đăng ký tài sản, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản, người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án; Thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ đó.
Tuy nhiên, những quy định trên chỉ mang tính chất chung chung, không rõ ràng, cụ thể (quy định việc phối hợp, hỗ trợ chung chung, không xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của các nhân, tổ chức trong việc phối hợp; thời hạn hoàn thành; chưa quy định chế tài xử lý đối với trường không phối hợp; trách nhiệm cụ thể mà cá nhân, cơ quan, tổ chức phải gánh chịu nếu họ không phối hợp hoặc việc phối hợp không kịp thời, chặt chẽ, cung cấp thông tin không đúng,…). Trên thực tế, kết quả của việc phối hợp phụ thuộc hoàn toàn vào tinh thần trách nhiệm, thái độ làm việc có các cá nhân, tổ chức có chức năng phối hợp nêu trên.
1.5. Chi phí thi hành án dân sự:
Văn phòng TPL là doanh nghiệp được tổ chức theo loại hình công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân và hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính. Tại Điều 65 Nghị định số 08/NĐ-CP quy định về chi phí thi hành án như sau:
“Điều 66. Chi phí thi hành án dân sự
Đối với việc tổ chức thi hành án, VPTPL được thu chi phí theo mức phí thi hành án dân sự do pháp luật về phí, lệ phí quy định. Những vụ việc phức tạp, VPTPL và người yêu cầu thi hành án có thể thỏa thuận về mức chi phí thực hiện công việc.”
Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 64 Nghị định số 08/NĐ-CP quy định:
- Trong trường hợp VPTPL tổ chức thi hành án mà phải tiến hành xác minh thì chi phí xác minh do Thừa phát lại và người yêu cầu thỏa thuận theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc được tính vào chi phí thi hành án dân sự quy định tại Điều 65 của Nghị định này”.
Hiện nay, phí THA thực hiện theo quy định tại Điều 60 Luật THADS; Điều 46 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP và Thông tư 216/2016/TT-BTC ngày 10/11/2026 của Bộ tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự.
- Thực tiễn hoạt động tổ chức thi hành án
2.1. Kết quả hoạt động của các VPTPL trong phạm vi cả nước và trên địa bàn tỉnh Bình Dương:
Chúng ta có thể tham khảo kết quả hoạt động của các VPTPL trong phạm vi cả nước và trên địa bàn tỉnh Bình Dương theo số liệu báo cáo, thống kê sau đây:
– Theo Báo cáo số 538/BC-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ Tổng kết việc triển khai tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội[2], tính đến ngày 30/9/2015, cả nước có 13 địa phương, với 53 VPTPL. Về hoạt động, các VPTPL đã tống đạt được 939.544 văn bản, lập 42.911 vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án 885 vụ việc, trực tiếp tổ chức thi hành án 378 vụ việc, đạt tổng doanh thu là 135 tỷ 862 triệu 202 nghìn đồng. Trong các mảng công việc, hoạt động tống đạt chiếm tỷ trọng lớn với 939.544 văn bản được tống đạt và doanh thu gần 70 tỷ đồng (chiếm 51 % tổng doanh thu); kế đến là hoạt động lập vi bằng với 42.911 vi bằng được lập và doanh thu gần 59 tỷ đồng (chiếm 43 % tổng doanh thu). Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án chiếm tỷ trọng nhỏ với 885 vụ việc xác minh và 378 vụ việc trực tiếp tổ chức thi hành án, doanh thu của 02 loại công việc trên mới đạt gần 8 tỷ đồng (chiếm 6% tổng doanh thu).
Hiện nay, số lượng VPTPL được thành lập, số lượng vụ việc đặc biệt là việc tống đạt, lập vi bằng đã được TPL thực hiện trên phạm vi cả nước đã có nhiều thay đổi (đến 31/3/2023 có 417 TPL; 181 VPTPL được thành lập và hiện nay, số lượng VPTPL được thành lập tăng lên nhiều).
– Theo số liệu thống kê về kết quả hoạt động của các VPTPL tại tỉnh Bình Dương như sau:
+ Từ khi được thành lập (tháng 02/2014) đến ngày 30/6/2016: lúc này, tại Bình Dương có 04 VPTPL, sau hơn 04 năm hoạt động, các VPTPL đã đạt được kết quả sau:
- Tống đạt văn bản giấy tờ: 43.182 văn bản (trong đó, tống đạt văn bản của Tòa án là 35.037 văn bản; cơ quan Thi hành án dân sự là 8.145 văn bản);
- Lập vi bằng: 3.366 vi bằng;
- Xác minh điều kiện thi hành án: 81 vụ việc;
- Tổ chức thi hành án: 33 vụ việc, với giá trị thi hành án là 9.854.479.605 đồng và 7.568,5m2đất.
Qua đó, cho thấy giai đoạn đầu (từ khi mới thành lập đến năm 2016), số vụ việc Văn phòng TPL xác minh không nhiều, bình quân, mỗi năm một Văn phòng TPL thụ lý khoảng từ 03 đến 7 vụ việc.
+ Từ năm 2017 đến năm 2019: năm 2018, tỉnh Bình Dương có thêm 01 Văn phòng TPL (nâng lên là 05 VPTPL), từ năm 2017 đến năm 2019, số vụ việc Văn phòng TPL xác minh là rất ít, chỉ vài vụ việc (trong đó Văn phòng TPL Bến Cát có 02 vụ việc). Từ năm 2020 đến nay, số vụ việc VPTPL xác minh và tổ chức thi hành án là không có.
2.2. Những khó khăn, vướng mắc của Thừa phát lại trong hoạt động tổ chức thi hành án:
Chủ trương của Đảng được đề cập trong Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị là xây dựng chế định TPL với mục đích chính và rất ràng là để xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự. Đồng này, đồng nghĩa với việc xây dựng một chế định TPL với nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện các công việc về thi hành án dân sự, tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự. Theo đó, thì TPL mặc dù hoạt động mang tính nghề nghiệp nhưng sẽ được thực hiện quyền lực nhà nước khi tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự theo quy định của pháp luật, đây chính là một trong những giá trị cốt lõi của TPL. Hiện nay, người ta biết đến TPL nhiều nhất là thông qua hoạt động lập vi bằng. Tuy nhiên, theo tôi, để TPL lớn mạnh, thì TPL cần phải thực hiện nhiệm vụ tổ chức THA. Và điều này, hoàn toàn đúng với chủ trương của Đảng khi xây dựng chế định TPL và phù hợp với thông lệ quốc tế, các nước có tổ chức TPL.
Theo tôi, để ngành TPL lớn mạnh, bên cạnh việc tống đạt, lập vi bằng thì TPL phải thực hiện được hoạt động tổ chức thi hành án. Câu hỏi mà mọi người quan tâm đặt ra hiện nay là: TPL CÓ ĐẢM ĐƯƠNG ĐƯỢC NHIỆM VỤ TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HAY KHÔNG? Theo chúng tôi là có (về số lượng, năng lực, cơ sở vật chất,… của TPL và các VPTPL hiện nay hoàn toàn có thể đảm đương được nhiệm vụ tổ chức THA; trong tương lai, TPL được bổ nhiệm nhiều hơn, các VPTPL được thành lập nhiều hơn và phủ khắp các tỉnh thành cả nước).
Tuy nhiên thời gian qua, đặc biệt là sau khi có Nghị định số 08/NĐ-CP, hoạt động tổ chức THA của TPL không có. Theo tôi nguyên nhân lớn nhất là do vướng về thể chế (quy định pháp luật). Nghị định số 08/NĐ-CP quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại khi tổ chức thi hành án và nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng VPTPL trong hoạt động tổ chức thi hành án là rất hạn chế (như phần trên đã nêu); không trao đủ quyền và tạo cơ chế chủ động, độc lập cho TPL và các VPTPL trong hoạt động tổ chức thi hành án; TPL không có các quyền như Chấp hành viên (hạn chế hơn rất nhiều so với Chấp hành viên); Trưởng VPTPL cũng không có các quyền như Thủ trưởng cơ quan THADS (hạn chế hơn rất nhiều so với Chi cục trưởng/Cục trưởng), điều này đã làm cho hoạt động tổ chức THA của TPL vốn trước đây đã chưa phát triển thì khi Nghị định số 08/NĐ-CP có hiệu lực đến nay đã bị chựng (ngừng) lại.
Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân là do tâm lý e ngại, chưa sẵn sàng từ phía người dân, doanh nghiệp trong việc yêu cầu các VPTPL thi hành án dân sự vì còn mới; hay một số TPL/VPTPL cũng e ngại không dám ký hợp đồng thực hiện thi hành án dân sự do quy định pháp luật không trao đủ quyền và tạo cơ chế chủ động cho TPL khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành án. Mặt khác, một số VPTPL, TPL còn hạn chế, chưa có kinh nghiệm, kỹ năng trong việc tổ chức thi hành án.
- Đề xuất, kiến nghị:
- Hoàn thiện các quy định về thể chế, theo đó đề nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 08/2020/NĐ-CP liên quan đến nội dung tổ chức thi hành án như sau:
– Cần có những quy định bảo đảm cho TPL và các VPTPL có đủ quyền và sự chủ động, độc lập trong hoạt động tổ chức thi hành án. Theo đó: TPL có các nhiệm vụ, quyền hạn như Chấp hành viên cơ quan THADS (đặc biệt là được quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế THA,…); Trưởng VPTPL có các các nhiệm vụ, quyền hạn như Chi cục trưởng Chi cục THADS (đặc biệt là quyền ra các quyết định về THA; tổ chức THA đối với Bản án, Quyết định chưa có hiệu lực được thi hành ngay (theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật THADS); giải quyết khiếu nại về thi hành án đối với khiếu nại về hành vi, quyết định của Thừa phát lại thuộc Văn phòng mình; giải quyết tố cáo đối với TPL, NV thuộc Văn phòng mình,..),
– Quy định chặt chẽ, xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ phối hợp và quy định chế tài xử lý đối với trường không phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tổ chức thi hành án (tống đạt, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế THA,…);
- Bên cạnh đó, đề nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 08/2020/NĐ-CP liên quan đến một số nội dung khác như:
– Về tồng đạt:
+ Đề nghị thay đổi khung mức chi phí tống đạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 62 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, theo đó tăng mức tối thiểu từ 65.000 đồng/việc lên 100.000đồng/việc và mức tối đa từ 130.000 đồng/việc lên 200.000đồng/việc.
+ Mở rộng phạm vi tống đạt của TPL, theo đó: Thừa phát lại tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan THADS ở ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở theo hợp đồng dịch vụ tống đạt được ký kết giữa Văn phòng Thừa phát lại với các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự. Bên cạnh việc tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự; giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, thì TPL còn có thẩm quyền tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của một số cá nhân, cơ quan, tổ chức khác như: Doanh nghiệp, Ngân hàng, cơ quan Thuế, hải Quan, Quản tài viên, …;
– Về tập sự hành nghề TPL:
– Khoản 2, 5 Điều 7 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định:
- Miễn đào tạo nghề Thừa phát lại đối với người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, chấp hành viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên; luật sư, công chứng viên đã hành nghề từ 05 năm trở lên; giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật; người đã là thẩm tra viên chính, thẩm tra viên cao cấp ngành tòa án, kiểm tra viên chính, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; người đã là thanh tra viên cao cấp, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật; người đã là thẩm tra viên chính, thẩm tra viên cao cấp ngành thi hành án dân sự.
- Thời gian đào tạo nghề Thừa phát lại là 06 tháng; thời gian bồi dưỡng nghề Thừa phát lại là 03 tháng.
– Khoản 5 Điều 8 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định:
- Thời gian tập sự là 06 tháng đối với người được đào tạo nghề Thừa phát lại, 03 tháng đối với người được bồi dưỡng nghề Thừa phát lại, kể từ ngày Sở Tư pháp ra văn bản thông báo về việc đăng ký tập sự.
Nhận thấy việc quy định thời gian tập sự căn cứ vào việc người tập sự tham gia khóa đào tạo hay bồi dưỡng là chưa phù hợp mà nên căn cứ vào thời gian công tác pháp luật của người đó (ví dụ: trường hợp người tập sự là Công chứng viên, do họ chọn tham gia lớp đào tạo nghề Thừa phát lại nên thời gian tập sự là 06 tháng là không phù hợp (vì theo quy định trên họ thuộc trường hợp được miễn đào tạo nghề Thừa phát lại, tức là chỉ cần tham giao lớp bồi dưỡng nghề TPL nhưng họ chọn tham gia lớp đào tạo nghề Thừa phát lại nên phải tham gia tập sự với thời gian là 06 tháng).
[1] Khoản này được sửa đổi theo quy định tại Khoản 12 Điều 2 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 12 năm 2013.
[2] https://quochoi.vn/content/vankien/Lists/DanhSachVanKien/Attachments/3126/A21.01_bc538%20tong%20ket%20thhien%20che%20dinh%20TPL.doc