BÁO CÁO THAM LUẬN
Khó khăn, vướng mắc của Thừa phát lại trong hoạt động xác minh điều kiện thi hành án
Chu Thị Ngọc Duyên – Trưởng VPTPL lại Bến Cát
Chủ trương xã hội hóa một số hoạt động tư pháp đã được được Đảng, Nhà nước ta đề ra từ rất sớm, đặc biệt tại Nghị Quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, một lần nữa, chủ trương này được xác định rõ và chỉ đạo triển khai thực hiện như sau: “Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình…từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án dân sự; nghiên cứu chế định Thừa phát lại, trước mắt có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước tiếp theo”.
Thể chế hóa chủ trương của Đảng, ngày 14/11/2008, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 24/2008/QH11 về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó đã giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương. Thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (Sau đây gọi tắt là nghị định số 61/2009/NĐ-CP). Trên cơ sở kết quả thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23/11/2012, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại đến hết ngày 31/12/2015, trong đó, giao Chính phủ tiếp tục tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ngày 25/3/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 510/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” và chỉ đạo Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ, ngành liên quan triển khai thực hiện. Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 về sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (Sau đây gọi tắt là nghị định số 135/2013/NĐ-CP). Bộ Tư pháp đã thống nhất ý kiến với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính lựa chọn thêm 12 địa phương thực hiện thí điểm, ngoài thành phố Hồ Chí Minh, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, An Giang và Vĩnh Long.
Để chính thức phát triển Thừa phát lại ở nước ta, ngày 26/11/2015, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiện chế định Thừa phát lại, chấm dứt việc thực hiện thí điểm và cho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016.
Trong quá trình triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước, ngày 08/01/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại (Sau đây gọi tắt là Nghị định 08/2020/NĐ-CP). Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 24/02/2020; Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 74. của Nghị định này.
Sau khi Nghị định 08/2020/NĐ-CP ra đời, Bộ Tư pháp đã ban hành một số văn bản hướng dẫn thi hành nghị định 08/2020/NĐ-CP như sau:
+ Thông tư số 05/2020/TT-BTP ngày 28/8/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP (Sau đây gọi tắt là Thông tư 05/2020/TT-BTP). Thông tư 05/2020/TT-BTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/10/2020; Thông tư số 12/2014/TT-BTP ngày 26 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về mẫu; nguyên tắc sử dụng trang phục; nguyên tắc cấp phát, sử dụng Thẻ Thừa phát lại hết hiệu lực, kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực;
+ Thông tư 08/2022/TT-BTP ngày 01/11/2022 của Bộ Tư pháp về quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại (có hiệu lực ngày 22/12/2022).
Theo quy định hiện hành, Thừa phát lại là một nghề độc lập, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Mặc dù không phải là nhân viên nhà nước, nhưng Thừa phát lại được Nhà nước bổ nhiệm, trao quyền để thực hiện một số công việc. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Thừa phát lại có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Hoạt động của Thừa phát lại chịu sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thừa phát lại được thực hiện 04 loại công việc, gồm:
- Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
- Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định này.
- Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
- Tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
Trong 04 loại công việc trên, thì có đến 03 loại việc liên quan trực tiếp đến thi hành án dân sự, đó là tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự; xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Qua hơn 10 năm thực hiện chế định Thừa phát lại, hoạt động Thừa phát lại bước đầu đã tạo lập một nghề mới cung cấp dịch vụ pháp lý và là bước đầu tiên thực hiện xã hội hóa hoạt động Thi hành án dân sự; hoạt động Thừa phát lại không ngừng lớn mạnh (tăng về số lượng và chất lượng); vị trí, vai trò của Thừa phát lại ngày càng được khẳng định; Thừa phát lại được người dân (cá nhân, tổ chức) đón nhận tích cực và có nhiều đóng góp cho hoạt động xét xử và thi hành án. Sau hơn 03 năm thực hiện Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, hoạt động Thừa phát lại tiếp tục có những chuyển biến tích cực, số lượng Văn phòng Thừa phát lại được thành lập tăng mạnh, đội ngũ Thừa phát lại không ngừng lớn mạnh, loại việc mà Thừa phát lại cung cấp ngày càng đa dạng, phong phú, chất lượng dịch vụ được nâng cao. Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trình tự thủ tục thực hiện xác minh điều kiện thi hành án dân sự và việc trực tiếp tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, trên thực tế, người dân ít sử dụng các dịch vụ này. Từ năm 2020 đến nay, Thừa phát lại hầu như không thực hiện 02 mảng công việc này do không có yêu cầu. Trong báo cáo này, chúng tôi xin phép phân tích về những quy định của pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại; thực tiễn hoạt động xác minh điều kiện thi hành án, qua đó phân tích, làm rõ những khó khăn, vướng mắc của Thừa phát lại trong hoạt động xác minh điều kiện thi hành án và có một số đề xuất, kiến nghị.
- Quy định của pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại:
Xác minh điều kiện thi hành án chính là quá trình thu thập các chứng cứ, tài liệu để làm rõ điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền sử dụng kết quả xác minh của TPL để yêu cầu thi hành án hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan THADS, Văn phòng TPL có thẩm quyền thi hành án cũng có thể căn cứ kết quả xác minh để tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 08/2020/NĐ-CP thì “Thừa phát lại là người có đủ tiêu chuẩn được nhà nước bổ nhiệm để thực hiện việc tống đạt, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án dân sự, tổ chức thi hành án dân sự”. Hiện nay, xác minh điều kiện thi hành án của TPL có thể được thực hiện trong 02 trường hợp sau:
– Trường hợp Văn phòng TPL thực hiện xác minh điều kiện thi hành án theo nội dung Hợp đồng dịch vụ về việc xác minh điều kiện thi hành án được ký kết với đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Sau đây gọi là xác minh theo yêu cầu của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).
– Trường hợp Văn phòng TPL thực hiện xác minh điều kiện thi hành án theo Hợp đồng dịch vụ về việc tổ chức thi hành án được ký kết với đương sự. Ở đây, xác minh điều kiện thi hành án được coi là một phần của việc tổ chức thi hành án (Sau đây gọi là xác minh để tổ chức thi hành án).
Xác minh điều kiện thi hành án trong hai trường hợp nói trên tuy có một số điểm khác nhau về thẩm quyền, phạm vi, thời hạn xác minh,… nhưng bản chất đều là nghiệp vụ thu thập chứng cứ, tài liệu để làm rõ điều kiện thi hành án của người phải thi hành án của TPL.
1.1. Thẩm quyền, phạm vi xác minh điều kiện thi hành án
1.1.1 Thẩm quyền xác minh điều kiện thi hành án:
1.1.1.1. Đối với trường hợp xác minh theo yêu cầu của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Tại khoản 1 Điều 43 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: “TPL có quyền xác minh điều kiện thi hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành án của các cơ quan THADS trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở”.
Các vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của các cơ quan THADS trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở bao gồm các vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan THADS cấp tỉnh và các vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan THADS các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc tỉnh đó theo quy định tại Điều 35 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Sau đây gọi tắt là Luật Thi hành án dân sự), cụ thể như sau:
– Cơ quan THADS cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau:
+ Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan THADS có trụ sở;
+ Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan THADS cấp huyện có trụ sở;
+ Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện nơi cơ quan THADS cấp huyện có trụ sở;
+ Bản án, quyết định do cơ quan THADS cấp huyện nơi khác, cơ quan THADS cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác.
– Cơ quan THADS cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
+ Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp tỉnh trên cùng địa bàn;
+ Bản án, quyết định của Toà án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan THADS cấp tỉnh;
+ Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Toà án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
+ Quyết định của Trọng tài thương mại;
+ Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh;
+ Bản án, quyết định do cơ quan THADS nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác;
+ Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan THADS cấp huyện quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật THADS mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành;
+ Bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật THADS mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp về thi hành án.
Theo đó thẩm quyền xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện theo địa bàn, gắn với địa chỉ đặt trụ sở của Văn phòng TPL. Trụ sở của Văn phòng TPL được xác định theo địa chỉ đăng ký tại Sở Tư pháp nơi cho phép Văn phòng TPL thành lập.
1.1.1.2. Đối với trường hợp xác minh để tổ chức thi hành án:
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì TPL có thẩm quyền xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án đối với tất cả các vụ việc do TPL trực tiếp tổ chức thi hành.
Theo quy định tại Điều 51 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì TPL được tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định sau:
– Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của TAND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là TAND cấp huyện); bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở;
– Bản án, quyết định phúc thẩm của TAND cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện; bản án, quyết định phúc thẩm của TAND cấp cao đối với bản án, quyết định sơ thẩm, chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở;
– Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của TAND cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở.
Đối với các phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh,… TPL không có thẩm quyền tổ chức thi hành án mà chỉ có thể xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp ký Hợp đồng dịch vụ về việc xác minh điều kiện thi hành án với đương sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
1.1.2. Phạm vi xác minh điều kiện thi hành án:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định thì TPL có thẩm quyền xác minh trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở. Tuy nhiên, trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án (tài sản) ngoài phạm vi địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở thì TPL cũng được tiến hành xác minh theo quy định tại khoản 2 Điều 43 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: “Khi thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án, TPL có quyền xác minh ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở”.
1.2. Cơ sở pháp lý thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án
1.2.1. Đối với trường hợp xác minh theo yêu cầu của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Cơ sở pháp lý phát sinh việc TPL xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp này là thỏa thuận về xác minh điều kiện thi hành án giữa Văn phòng TPL với đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, dưới hình thức ký kết Hợp đồng dịch vụ về việc xác minh điều kiện thi hành án. Những người có quyền thỏa thuận việc xác minh điều kiện thi hành án với Văn phòng TPL theo quy định tại Khoản 1 Điều 44 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP bao gồm: Người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án trong các vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của các cơ quan THADS trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở.
Tại khoản 4 Điều 44 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: “Khi thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại về xác minh điều kiện thi hành án, đương sự phải cung cấp bản án, quyết định của Tòa án và các tài liệu khác có liên quan (nếu có); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án phải cung cấp tài liệu chứng minh có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự.”. Việc yêu cầu TPL xác minh điều kiện thi hành án, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến cung cấp các tài liệu nêu trên làm cơ sở cho việc tiếp nhận và ký kết hợp đồng dịch vụ về việc xác minh điều kiện thi hành án.
Hợp đồng dịch vụ về việc xác minh điều kiện thi hành án là văn bản pháp lý phát sinh quyền và nghĩa vụ của Văn phòng TPL với người yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án. Hợp đồng này được soạn thảo trên cơ sở các nội dung đã thống nhất giữa các bên, nhưng phải theo mẫu TP-TPL-N-06 ban hành kèm theo Thông tư số 05/2020/TT-BTP.
Sau khi ký hợp đồng dịch vụ, Văn phòng TPL phải ghi nhận việc xác minh vào sổ theo dõi việc xác minh điều kiện thi hành án (theo mẫu TP-TPL-S-04 ban hành kèm theo Thông tư số 05/2020/TT-BTP để quản lý theo quy định).
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ký kết hợp đồng, Trưởng Văn phòng TPL phải ra Quyết định về việc xác minh điều kiện thi hành án (theo mẫu TP-TPL-N-07 ban hành kèm theo Thông tư số 05/2020/TT-BTP), trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Quyết định này phải ghi rõ căn cứ, nội dung xác minh, hình thức xác minh, làm cơ sở cho việc thực hiện xác minh điều kiện thi hành án của TPL. Quyết định về việc xác minh điều kiện thi hành án cũng phải được vào sổ theo dõi việc xác minh điều kiện thi hành án (theo mẫu TP-TPL-S-04 ban hành kèm theo Thông tư số 05/2020/TT-BTP) và phải gửi cho VKSND cấp huyện nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở và cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành án theo quy định của pháp luật THADS.
1.2.2. Đối với trường hợp xác minh để tổ chức thi hành án:
Trong trường hợp này, hoạt động xác minh điều kiện thi hành án là một khâu trong quá trình tổ chức thi hành án của TPL. Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khỏan 1 Điều 54 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, thì đương sự có quyền yêu cầu Văn phòng TPL tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật, dưới hình thức ký kết Hợp đồng dịch vụ về việc tổ chức thi hành án.
Theo đó, cần chú ý rằng, đối với trường hợp xác minh theo yêu cầu của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành án của các cơ quan THADS trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở thì cả đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có thể là chủ thể ký kết Hợp đồng dịch vụ về việc xác minh điều kiện thi hành án (tức là đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có quyền yêu cầu TPL xác minh điều kiện THA). Còn trong trường hợp xác minh để tổ chức thi hành án, do chỉ có đương sự là người có quyền yêu cầu thi hành án, còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có quyền yêu cầu thi hành án nên họ cũng không có quyền yêu cầu Văn phòng TPL xác minh điều kiện thi hành án (hoặc thỏa thuận với Văn phòng TPL ký kết Hợp đồng dịch vụ về việc xác minh điều kiện thi hành án).
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ, Trưởng Văn phòng TPL căn cứ vào nội dung hợp đồng dịch vụ và thẩm quyền thi hành án quy định tại Điều 35 của Luật THADS có văn bản đề nghị Chi cục trưởng Chi cục THADS hoặc Cục trưởng Cục THADS nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở ra quyết định thi hành án theo thẩm quyền. Sau khi Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền ra quyết định thi hành án, Trưởng Văn phòng TPL sẽ phân công cho TPL tổ chức thi hành. Các nội dung công việc TPL phải thực hiện để tổ chức thi hành án bao gồm: xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành án, thỏa thuận về việc thi hành án, thanh toán tiền thi hành án. Trong đó, xác minh điều kiện thi hành án có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định đến kết quả giải quyết vụ việc.
1.3. Thời hạn xác minh điều kiện thi hành án:
1.3.1. Đối với trường hợp xác minh theo yêu cầu của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Thời hạn xác minh là một nội dung các bên được tự do thỏa thuận và được ghi nhận trong Hợp đồng dịch vụ về việc xác minh điều kiện thi hành án, liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của các bên.
1.3.2. Đối với trường hợp xác minh để tổ chức thi hành án:
Thừa phát lại phải tuân thủ thời hạn xác minh theo quy định của pháp luật về THADS. Khoản 1 Điều 44 Luật THADS quy định: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh”. Như vậy, TPL phải tiến hành hoạt động xác minh trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án hết thời gian tự nguyện thi hành án. Thời gian tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án (Điều 45 Luật THADS).
1.4. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan trong quá trình xác minh điều kiện thi hành án:
Tại Điều 50 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan trong việc cung cấp thông tin, cụ thể:
– Công chức tư pháp – hộ tịch, địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường, cán bộ, công chức cấp xã khác, cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức tín dụng, cơ quan đăng ký đất đai, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, tổ chức hành nghề công chứng và các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án phối hợp, hỗ trợ TPL trong xác minh điều kiện thi hành án; phối hợp cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp.
– Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án ký vào biên bản khi TPL xác minh trực tiếp hoặc cung cấp thông tin bằng văn bản theo đề nghị của TPL trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị, trường hợp từ chối cung cấp phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do. Các trường hợp mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có quyền từ chối cung cấp thông tin theo Điều 46 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP gồm:
+ Vụ việc không thuộc thẩm quyền xác minh của TPL.
+ Đề nghị cung cấp thông tin về cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là người có nghĩa vụ thi hành án thuộc thẩm quyền xác minh của TPL.
+ Hồ sơ đề nghị cung cấp không đủ các tài liệu quy định tại Điều 45 của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.
+ Các thông tin tài liệu thuộc phạm vi bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật có liên quan.
Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định của pháp luật.
1.5. Ủy quyền xác minh điều kiện thi hành án:
Như phần trên đã đề cập, TPL có thể thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả xác minh, giảm các chi phí không cần thiết, Văn phòng TPL được ủy quyền một phần hoặc toàn bộ nội dung công việc theo Hợp đồng dịch vụ về việc xác minh điều kiện thi hành án cho Văn phòng TPL khác thực hiện, nếu người yêu cầu đồng ý; Văn phòng TPL nhận ủy quyền được thực hiện việc xác minh theo quy định của pháp luật về THADS, cụ thể Điều 49 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định về ủy quyền xác minh điều kiện thi hành án như sau:
“1. Văn phòng Thừa phát lại có thể ủy quyền một phần hoặc toàn bộ nội dung công việc theo hợp đồng dịch vụ xác minh điều kiện thi hành án cho Văn phòng Thừa phát lại khác thực hiện, nếu người yêu cầu đồng ý.
- Việc ủy quyền giữa các Văn phòng Thừa phát lại phải được thể hiện bằng văn bản và có các nội dung sau đây: Thông tin của các Văn phòng Thừa phát lại; thông tin về người yêu cầu xác minh, nội dung xác minh theo hợp đồng dịch vụ đã ký kết; nội dung ủy quyền, các nội dung đã thực hiện (nếu có), nội dung tiếp tục xác minh, thù lao ủy quyền và các thỏa thuận khác (nếu có).
Việc ủy quyền phải được thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi Văn phòng Thừa phát lại ủy quyền, Văn phòng Thừa phát lại nhận ủy quyền đặt trụ sở để thực hiện việc kiểm sát theo quy định của pháp luật.
- Văn phòng Thừa phát lại nhận ủy quyền thực hiện việc xác minh theo quy định của Nghị định này và pháp luật thi hành án dân sự.”
1.6. Chi phí thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án:
Văn phòng TPL là doanh nghiệp được tổ chức theo loại hình công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân và hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính. Do đó, Văn phòng TPL được quyền thỏa thuận mức chi phí xác minh với người yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án, người yêu cầu tổ chức thi hành án. Tại Điều 64 Nghị định số 08/NĐ-CP quy định về chi phí lập vi bằng và xác minh điều kiện thi hành án như sau:
“1. Chi phí lập vi bằng và xác minh điều kiện thi hành án do người yêu cầu và Văn phòng Thừa phát lại thỏa thuận theo công việc thực hiện hoặc theo giờ làm việc.
- Văn phòng Thừa phát lại quy định và phải niêm yết công khai chi phí lập vi bằng và xác minh điều kiện thi hành án, trong đó xác định rõ mức tối đa, mức tối thiểu, nguyên tắc tính.
Trên cơ sở chi phí đã niêm yết, người yêu cầu và Văn phòng Thừa phát lại có thể thỏa thuận thêm về chi phí thực hiện theo công việc hoặc theo giờ làm việc và các khoản chi phí thực tế phát sinh bao gồm: Chi phí đi lại; phí dịch vụ cho các cơ quan cung cấp thông tin; chi phí cho người làm chứng, người tham gia hoặc chi phí khác (nếu có).
- Trong trường hợp Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành án mà phải tiến hành xác minh thì chi phí xác minh do Thừa phát lại và người yêu cầu thỏa thuận theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc được tính vào chi phí thi hành án dân sự quy định tại Điều 65 của Nghị định này.”
- Thực tiễn hoạt động xác minh điều kiện thi hành án:
2.1. Kết quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại trong phạm vi cả nước và trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Chúng ta có thể tham khảo kết quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại trong phạm vi cả nước và trên địa bàn tỉnh Bình Dương theo số liệu báo cáo, thống kê sau đây:
– Theo Báo cáo số 538/BC-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ Tổng kết việc triển khai tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội[1], tính đến ngày 30/9/2015, cả nước có 13 địa phương, với 53 Văn phòng Thừa phát lại. Về hoạt động, các Văn phòng Thừa phát lại đã tống đạt được 939.544 văn bản, lập 42.911 vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án 885 vụ việc, trực tiếp tổ chức thi hành án 378 vụ việc, đạt tổng doanh thu là 135 tỷ 862 triệu 202 nghìn đồng. Trong các mảng công việc, hoạt động tống đạt chiếm tỷ trọng lớn với 939.544 văn bản được tống đạt và doanh thu gần 70 tỷ đồng (chiếm 51 % tổng doanh thu); kế đến là hoạt động lập vi bằng với 42.911 vi bằng được lập và doanh thu gần 59 tỷ đồng (chiếm 43 % tổng doanh thu). Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án chiếm tỷ trọng nhỏ với 885 vụ việc xác minh và 378 vụ việc trực tiếp tổ chức thi hành án, doanh thu của 02 loại công việc trên mới đạt gần 8 tỷ đồng (chiếm 6% tổng doanh thu).
– Theo số liệu thống kê về kết quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại tại tỉnh Bình Dương như sau:
+ Từ khi được thành lập (tháng 02/2014) đến ngày 30/6/2016: lúc này, tại Bình Dương có 04 Văn phòng Thừa phát lại, sau hơn 04 năm hoạt động, các Văn phòng Thừa phát lại đã đạt được kết quả sau:
- Tống đạt văn bản giấy tờ: 43.182 văn bản (trong đó, tống đạt văn bản của Tòa án là 35.037 văn bản; cơ quan Thi hành án dân sự là 8.145 văn bản);
- Lập vi bằng: 3.366 vi bằng;
- Xác minh điều kiện thi hành án: 81 vụ việc;
- Tổ chức thi hành án: 33 vụ việc, với giá trị thi hành án là 9.854.479.605 đồng và 7.568,5m2đất.
Qua đó, cho thấy giai đoạn đầu (từ khi mới thành lập đến năm 2016), số vụ việc Văn phòng TPL xác minh không nhiều, bình quân, mỗi năm một Văn phòng TPL thụ lý khoảng từ 03 đến 7 vụ việc.
+ Từ năm 2017 đến năm 2019: năm 2018, tỉnh Bình Dương có thêm 01 Văn phòng TPL (nâng lên là 05 Văn phòng Thừa phát lại), từ năm 2017 đến năm 2019, số vụ việc Văn phòng TPL xác minh là rất ít, chỉ vài vụ việc (trong đó Văn phòng TPL Bến Cát có 02 vụ việc). Từ năm 2020 đến nay, số vụ việc Văn phòng TPL xác minh là không có.
2.2. Những khó khăn, vướng mắc của Thừa phát lại trong hoạt động xác minh điều kiện thi hành án:
Qua hoạt động xác minh điều kiện thi hành án của TPL, nhận thấy có những khó khăn, vướng mắc sau đây:
– Về người yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án:
+ Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, thì TPL có thẩm quyền xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
+ Tại khoản 1 Điều 43 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: “TPL có quyền xác minh điều kiện thi hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành án của các cơ quan THADS trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở”;
+ Tại khoản 1 Điều 44 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: “Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án có quyền thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại về việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án kể cả trong trường hợp vụ việc đó đang do cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp tổ chức thi hành.”
+ Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì TPL có thẩm quyền xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án đối với tất cả các vụ việc do TPL trực tiếp tổ chức thi hành.
Như phần trên đã phân tích, TPL có thể thực hiện xác minh điều kiện THA trong 02 trường hợp là: đối với trường hợp xác minh theo yêu cầu của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành án của các cơ quan THADS trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở thì cả đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có thể là chủ thể ký kết Hợp đồng dịch vụ về việc xác minh điều kiện thi hành án (đều có quyền yêu cầu TPL xác minh điều kiện THA). Còn trong trường hợp xác minh để tổ chức thi hành án, do chỉ có đương sự là người có quyền yêu cầu thi hành án, còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có quyền yêu cầu thi hành án (nội dung này được thống nhất quy định tại Nghị định 08/2020/NĐ-CP và Luật THADS) nên họ cũng không có quyền yêu cầu Văn phòng TPL xác minh điều kiện thi hành án (hoặc thỏa thuận với Văn phòng TPL ký kết Hợp đồng dịch vụ về việc xác minh điều kiện thi hành án). Điều này đã tạo ra sự khác biệt, không tương thích về chủ thể yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án giữa hai trường hợp trên. Ví dụ: cùng một Bản án hoặc Quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát. Nếu vụ việc trên không do Văn phòng TPL Bến Cát tổ chức thi hành án (mà do Chi cục THADS thị xã Bến Cát tổ chức thi hành án), thì cả đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có quyền yêu cầu Văn phòng TPL Bến Cát hoặc các Văn phòng TPL khác trên địa bàn tỉnh Bình Dương xác minh điều kiện THA. Tuy nhiên, nếu vụ việc trên đang do Văn phòng TPL Bến Cát tổ chức thi hành án thì chỉ có đương sự là người có quyền yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án.
Trên thực tế, theo tôi nên chỉ quy định TPL có thẩm quyền xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự, không cần thiết quy định TPL có thẩm quyền xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì các lý do sau đây:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật THADS thì: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự”. Theo đó: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là họ có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự, chứ họ không được hưởng quyền, lợi ích trong bản án quyết định được thi hành nên trên thực tế họ sẽ không yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án. Hoặc trường hợp họ có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự, ví dụ: người mua/nhận chuyển nhượng tài sản của người phải THA bị CHV kê biên để bảo đảm THA, có thể họ cần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, tuy nhiên để thực hiện quyền yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án thì họ phải cung cấp tài liệu chứng minh có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự (tức họ phải thu thập tài liệu, chứng cứ trước khi yêu cầu xác minh và một khi họ đã thu thập được những tài liệu, chứng cứ chứng minh mình có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự thì họ sẽ không còn nhu cầu để yêu cầu TPL xác minh điều kiện THA nữa).
Bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức, CHV, TPL buộc phải xác minh làm rõ tư cách của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc thi hành án (họ có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự). Mặt khác, tại Điều 7b Luật THADS quy định về quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không quy định quyền yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án.
– Về thời điểm phát sinh quyền yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án:
+ Đối với trường hợp xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Tại khoản 1 Điều 44 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: “Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án có quyền thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại về việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án kể cả trong trường hợp vụ việc đó đang do cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp tổ chức thi hành.”
- Tại khoản 3 Điều 44 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: “Khi thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại về xác minh điều kiện thi hành án, đương sự phải cung cấp bản án, quyết định của Tòa án và các tài liệu khác có liên quan (nếu có); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án phải cung cấp tài liệu chứng minh có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự.”
- Tại khoản 3 Điều 48 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: “Người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại để yêu cầu thi hành án hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Cơ quan thi hành án dân sự, Văn phòng Thừa phát lại có thẩm quyền thi hành án căn cứ kết quả xác minh để tổ chức thi hành án.”
Qua đó có thể thấy, thời điểm phát sinh quyền yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án đối với trường hợp xác minh điều kiện thi hành theo yêu cầu của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là: khi bản án, quyết định tuyên xử vụ việc mà họ yêu cầu xác minh có hiệu lực thi hành (khi có bản án, quyết định có hiệu lực thi hành (phát sinh quyền yêu cầu thi hành án), bao gồm trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng thuộc loại được thi hành ngay theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật THADS, tức là, lúc này, chưa có quyết định thi hành án (cơ quan THADS chưa ra quyết định THA) và trường hợp vụ việc đã có quyết định thi hành án, với điều kiện vụ việc mà họ yêu cầu TPL xác minh đó thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở. Khi thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại về xác minh điều kiện thi hành án, thì đương sự phải cung cấp bản án, quyết định của Tòa án và các tài liệu khác có liên quan (nếu có); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án phải cung cấp tài liệu chứng minh có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự.” và họ sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại để yêu cầu thi hành án hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Tuy nhiên, theo biểu mẫu: TP-TPL-N-07 (Quyết định xác minh điều kiện THA); TP-TPL-N-08 (Quyết định ủy quyền xác minh điều kiện THA) và TP-TPL-N-09 (Biên bản xác minh điều kiện THA) bàn hành kèm theo Thông tư số 05/2020/TT-BTP thì các biểu mẫu trên đều có căn cứ Quyết định thi hành án của Cục trưởng cục THADS (Chi cục Trưởng Chi cục THADS), điều này có thể gây hiều nhầm cho người đọc rằng tất cả các trường hợp đều phải có quyết định thi hành án thì đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới có quyền yêu cầu TPL xác minh điều kiện THA.
+ Riêng đối với trường hợp xác minh để tổ chức thi hành án là: khi đã có quyết định thi hành án.
– Về thời hạn xác minh điều kiện thi hành án:
Chúng ta thấy có sự khác biệt về thời hạn xác minh điều kiện thi hành án trong hai trường hợp trên. Đối với trường hợp xác minh theo yêu cầu của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì thời hạn xác minh điều kiện thi hành án là do các bên thỏa thuận và thời điểm TPL tiến hành xác minh có thể trước hoặc sau khi có quyết định THA. Còn đối với trường hợp xác minh để tổ chức thi hành án thì Thừa phát lại phải phải tiến hành hoạt động xác minh trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án hết thời gian tự nguyện thi hành án.
Theo tôi, Luật thi hành án quy đinh thời hạn xác minh điều kiện thi hành án là nhằm đảm bảo cho việc xác minh điều kiện thi hành án được tiến hành nhanh chóng, kịp thời nhưng cũng có phần tạo cơ hội cho người phải thi hành án có thêm thời gian để tự nguyện thi hành án. Tuy nhiên, nếu thuộc trường hợp xác minh theo yêu cầu của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lúc này thời hạn xác minh điều kiện thi hành án là do các bên thỏa thuận, trong trường hợp này, sẽ có trường hợp người phải thi hành án sẽ bị thiệt thòi hơn so với trường hợp xác minh để tổ chức thi hành án (do họ bị mất cơ hội có thêm thời gian tự nguyện thi hành án).
Theo đó đã tạo ra sự khác biệt, không tương thích về thời hạn xác minh điều kiện thi hành án giữa hai trường hợp trên.
– Việc xác minh và xử lý kết quả xác minh điều kiện thi hành án:
+ Đối với trường hợp xác minh theo yêu cầu của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì nội dung xác minh điều kiện thi hành án là do các bên thỏa thuận trên cơ sở Hợp đồng dịch vụ về việc xác minh điều kiện thi hành án được ký giữa Văn phòng TPL và người yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án.
+ Đối với trường hợp xác minh để tổ chức thi hành án: đòi hỏi TPL phải tiến hành xác minh kịp thời, đầy đủ về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, như: nhân thân của người phải thi hành án; tài sản của người phải thi hành án ( động sản, bất động sản, tài sản chung, tài sản riêng, nguồn gốc hình thành tài sản,…), thu nhập, số dư tài khoản,…; dư luận xã hội, quan điểm của chính quyền địa phương trong việc thi hành án và các điều kiện khác phát sinh trong quá trình xác minh.
Xác minh điều kiện thi hành án và xử lý kết quả xác minh là một khâu rất quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành án của TPL. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành thì TPL không được áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án. Do vậy, trong trường hợp xác minh để tổ chức thi hành án, nếu kết quả xác minh xác định người phải THA có điều kiện THA (có tiền trong tài khoản, có thu nhập, tài sản,…) để thi hành án và thuộc hợp phải áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật THADS thì TPL phải chấm dứt THA, Văn phòng TPL và người yêu cầu THA phải thanh lý hợp đồng (theo quy định tại khoản 3 Điều 57 và Điều 58 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP). Điều này đã làm giảm tính hiệu quả của hoạt động xác minh điều kiện THA của TPL và đây cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho số lượng vụ việc xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức thi hành án của TPL giảm mạnh và về 0 (không có vụ nào phát sinh).
Bên cạnh đó, nếu kết quả xác minh xác định người phải THA thuộc trường hợp theo quy định tại khoản 4, 5, 6, 7 Điều 57 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì TPL cũng phải chấm dứt THA, Văn phòng TPL và người yêu cầu THA phải thanh lý hợp đồng và xử lý hậu quả pháp lý khi chấm dứt việc thi hành án theo quy định tại Điều 58 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP. Nếu kết quả xác minh xác định người phải THA thuộc trường hợp hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án thì Trưởng Văn phòng TPL đề nghị người có thẩm quyền (Chi cục trưởng hoặc Cục trưởng) ra Quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án.
– Về ủy quyền xác minh điều kiện thi hành án: nhận thấy quy định này nhằm tạo điều kiện cho TPL, tuy nhiên trên thực tế không áp dụng (tính khả thi không cao). Vì khi người yêu cầu xác minh điều kiện THA họ yêu cầu TPL xác minh là mong muốn vụ việc được thực hiện nhanh chóng, việc ủy quyền xác minh điều kiện thi hành án sẽ làm mất thời gian. Do vậy, trên thực tế thay vì ủy quyền xác minh điều kiện thi hành án, thì các Văn phòng TPL sẽ chọn hình thức phối hợp với Văn phòng TPL nơi tiến hành xác minh để mang lại kết quả nhanh hơn.
– Về công tác phối hợp trong việc xác minh điều kiện thi hành án: việc phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án của TPL được quy định tại Điều 5, Điều 50 và khoản 2 Điều 60 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, nhận thấy những quy định trên còn mang tính chất chung chung (quy định việc phối hợp, hỗ trợ chung chung, không xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của các nhân, tổ chức trong việc phối hợp; chưa quy định chế tài xử lý đối với trường không phối hợp). Trên thực tế, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án cung cấp thông tin bằng văn bản theo đề nghị của TPL chậm (quá thời hạn rất nhiều so với quy định (quy định là trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị).
- Đề xuất, kiến nghị:
Hoàn thiện các quy định về thể chế, theo đó đề nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 08/2020/NĐ-CP liên quan đến nội dung xác minh điều kiện thi hành án như sau:
– Quy định TPL xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự (bỏ quy định TPL xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nhằm phù hợp với Luật THADS);
– Cần quy định cụ thể về thời điểm phát sinh quyền yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án; đồng thời có sự thống nhất quy định này trong Nghị định và biểu mẫu áp dụng được quy định tại Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định; quy định thời hạn xác minh điều kiện thi hành án phù hợp, hài hòa giữa trường hợp xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và trường hợp xác minh để tổ chức thi hành án;
– Quy định chặt chẽ, xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ phối hợp và quy định chế tài xử lý đối với trường không phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án của TPL;
– Về xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án: cần quy định theo hướng quy định thêm quyền hạn cho TPL và Văn phòng TPL (theo đó TPL có các quyền tương xứng như CHV (được quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án,…) và Văn phòng TPL có các quyền tương xứng như Chi cục THAS (Trưởng Văn phòng được quyền ban hành các quyết định về THA,…);
– Bên cạnh đó, đề nghị ban hành Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN ngày 17/01/2014 của Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại tại các tổ chức tín dụng (do Thông tư này hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại được quy định tại Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và 135/2013/NĐ-CP, hiện nay hai Nghị định này đã hết hiệu lực)./.