BÁO CÁO THAM LUẬN
Một số vấn đề về hoạt động tống đạt của TPL,
thực trạng và kiến nghị hướng hoàn thiện
TPL. Chu Thị Ngọc Duyên (VPTPL Bến Cát)
Chủ trương xã hội hóa một số hoạt động tư pháp đã được Đảng, Nhà nước ta đề ra từ rất sớm, đặc biệt tại Nghị Quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, một lần nữa, chủ trương này được xác định rõ và chỉ đạo triển khai thực hiện như sau: “Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình…từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án dân sự; nghiên cứu chế định Thừa phát lại, trước mắt có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước tiếp theo”.
Thể chế hóa chủ trương của Đảng, ngày 14/11/2008, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 24/2008/QH11 về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó đã giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương. Thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (Sau đây gọi tắt là Nghị định số 61/2009/NĐ-CP). Trên cơ sở kết quả thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23/11/2012, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại đến hết ngày 31/12/2015, trong đó, giao Chính phủ tiếp tục tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ngày 25/3/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 510/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” và chỉ đạo Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ, ngành liên quan triển khai thực hiện. Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 về sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (Sau đây gọi tắt là Nghị định số 135/2013/NĐ-CP). Bộ Tư pháp đã thống nhất ý kiến với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính lựa chọn thêm 12 địa phương thực hiện thí điểm, ngoài thành phố Hồ Chí Minh, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, An Giang và Vĩnh Long.
Để chính thức phát triển Thừa phát lại ở nước ta, ngày 26/11/2015, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiện chế định Thừa phát lại, chấm dứt việc thực hiện thí điểm và cho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016.
Trong quá trình triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước, ngày 08/01/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại (Sau đây gọi tắt là Nghị định 08/2020/NĐ-CP). Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 24/02/2020; Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 74 của Nghị định này.
Sau khi Nghị định 08/2020/NĐ-CP ra đời, Bộ Tư pháp đã ban hành một số văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định 08/2020/NĐ-CP như sau:
+ Thông tư số 05/2020/TT-BTP ngày 28/8/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP (Sau đây gọi tắt là Thông tư số 05/2020/TT-BTP). Thông tư 05/2020/TT-BTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/10/2020; Thông tư số 12/2014/TT-BTP ngày 26 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về mẫu; nguyên tắc sử dụng trang phục; nguyên tắc cấp phát, sử dụng Thẻ Thừa phát lại hết hiệu lực, kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực;
+ Thông tư số 08/2022/TT-BTP ngày 01/11/2022 của Bộ Tư pháp về quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại (có hiệu lực ngày 22/12/2022) (Sau đây gọi tắt là Thông tư số 08/2022/TT-BTP);
+ Thông tư số 03/2024/TT-BTP ngày 15/5/2024 của Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung 08 thông tư liên quan đến thủ tục hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp (trong đó có Thông tư số 05/2020/TT-BTP ngày 28/8/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP) (Sau đây gọi tắt là Thông tư số 03/2024/TT-BTP).
Theo quy định hiện hành, Thừa phát lại là một nghề độc lập, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Mặc dù không phải là nhân viên nhà nước, nhưng Thừa phát lại được Nhà nước bổ nhiệm, trao quyền để thực hiện một số công việc. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Thừa phát lại có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Hoạt động của Thừa phát lại chịu sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thừa phát lại được thực hiện 04 loại công việc, gồm:
- Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
- Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định này.
- Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
- Tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
Trong 04 loại công việc trên, thì có đến 03 loại việc liên quan trực tiếp đến thi hành án dân sự, đó là tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự; xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Qua 15 năm thực hiện chế định Thừa phát lại, hoạt động Thừa phát lại bước đầu đã tạo lập một nghề mới cung cấp dịch vụ pháp lý và là bước đầu tiên thực hiện xã hội hóa hoạt động Thi hành án dân sự; hoạt động Thừa phát lại không ngừng lớn mạnh (tăng về số lượng và chất lượng); vị trí, vai trò của Thừa phát lại ngày càng được khẳng định và nâng cao; Thừa phát lại được người dân, doanh nghiệp đón nhận tích cực và có nhiều đóng góp cho hoạt động xét xử và thi hành án. Sau hơn 04 năm thực hiện Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, hoạt động Thừa phát lại tiếp tục có những chuyển biến tích cực, số lượng VPTPL được thành lập tăng mạnh, đội ngũ Thừa phát lại không ngừng lớn mạnh, loại việc mà Thừa phát lại cung cấp ngày càng đa dạng, phong phú, chất lượng dịch vụ được nâng cao. Từ năm 2020 đến nay, Thừa phát lại chủ yếu thực hiện 02 loại việc là tống đạt và lập vi bằng (đối với 02 loại việc: xác minh điều kiện THA và tổ chức thi hành án dân sự, gần như không thực hiện). Đối với hoạt động tống đạt, TPL chủ yếu thực hiện tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu (Sau đây gọi tắt là văn bản) của Tòa án, cơ quan THADS (chưa thực hiện tống đạt văn bản của Viện kểm sát nhân dân, văn bản có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài). Trong báo cáo này, chúng tôi xin phép phân tích những quy định của pháp luật về tống đạt; thực tiễn hoạt động tống đạt (chủ yếu là tống đạt văn bản của Tòa án, cơ quan THADS), qua đó phân tích, làm rõ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động tống đạt của TPL và có một số đề xuất, kiến nghị.
- Quy định của pháp luật về hoạt động tống đạt của Thừa phát lại:
1.1. Thẩm quyền và phạm vi tống đạt của Thừa phát lại:
1.1.1. Thẩm quyền tống đạt:
Khoản 2 Điều 2 Nghị định 08/2020 quy định:
“2. Tống đạt là việc thông báo, giao nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan;”
– Điều 32 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định:
“1. Thừa phát lại thực hiện tống đạt các giấy tờ, hồ sơ, tài liệu sau đây:
- a) Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự;
- b) Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.
- Trưởng Văn phòng Thừa phát lại có thể giao thư ký nghiệp vụ thực hiện việc tống đạt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận việc tống đạt phải do Thừa phát lại thực hiện.
- Văn phòng Thừa phát lại phải chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức yêu cầu về việc tống đạt thiếu chính xác, không đúng thủ tục, không đúng thời hạn của mình; bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định của pháp luật.”
Theo đó, người có thẩm quyền tống đạt là: TPL và Thư ký nghiệp vụ của Văn phòng TPL nếu được Trưởng Văn phòng TPL giao, trừ trường hợp Tòa án, VKSND và cơ quan THADS có thỏa thuận việc tống đạt phải do TPL thực hiện.
Như vậy, chủ thể tống đạt gồm TPL (đương nhiên hoặc theo thỏa thuận của các bên) hoặc Thư ký nghiệp vụ (nếu được Trưởng Văn phòng giao nhiệm vụ) và thực hiện dưới sự giám sát, chỉ đạo của Trưởng Văn phòng TPL.
1.1.2. Phạm vi tống đạt:
* Thứ nhất, về địa hạt đống đạt:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP:
- Thừa phát lại tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự trong vụ án hình sự và khiếu nại, tố cáo; tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở theo hợp đồng dịch vụ tống đạt được ký kết giữa Văn phòng Thừa phát lại với Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp tống đạt ngoài địa bàn cấp tỉnh hoặc ở vùng đảo, quần đảo ngoài địa bàn cấp huyện nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở thì Văn phòng Thừa phát lại có thể thỏa thuận với Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự bằng hợp đồng riêng cho từng việc cụ thể.”
Theo đó, TPL có thẩm quyền tống đạt các giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của TAND cấp cao, TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện; VKSND cấp cao, VKSND cấp tỉnh và VKSND cấp huyện; cơ quan THADS cấp tỉnh và cơ quan THADS cấp huyện trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở theo hợp đồng dịch vụ tống đạt được ký kết giữa Văn phòng TPL với Tòa án, VKSND và cơ quan THADS.
Mặt khác, theo quy định tại khoản 5 Điều 33 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì mỗi Tòa án, VKSND, mỗi cơ quan THADS có thể ký hợp đồng dịch vụ tống đạt với một hoặc nhiều Văn phòng TPL. Như vậy, việc ký hợp đồng dịch vụ tống đạt với Văn phòng TPL nào là do Tòa án, VKSND, cơ quan THADS sẽ quyết định lựa chọn và có quyền lựa chọn một hoặc nhiều Văn phòng TPL có trụ sở trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở để ký kết hợp đồng dịch vụ tống đạt (tạo sự cạnh tranh, cơ chế thị trường).
Trong một số trường hợp TPL cũng được thực hiện tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, VKSND, cơ quan THADS ngoài địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt trụ sở Văn phòng TPL hoặc ở vùng đảo, quần đảo. Đó là những trường hợp thuộc thẩm quyền truy tố, xét xử, THADS của TAND, VKSND, cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt trụ sở Văn phòng TPL nhưng đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cư trú, làm việc hoặc có tài sản ở địa bàn tỉnh khác thì Văn phòng TPL đó được tống đạt ngoài địa bàn cấp tỉnh và sẽ thực hiện thông qua hợp đồng dịch vụ tống đạt riêng cho từng việc cụ thể.
– Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì: Thừa phát lại cũng có nhiệm vụ tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài (do Bộ Tư pháp lựa chọn một hoặc một số Văn phòng Thừa phát lại để thực hiện; việc tống đạt này được thực hiện trên phạm vi toàn quốc).
* Thứ hai, về văn bản đống đạt:
Theo khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 33 và khoản 2 Điều 34 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và Điều 171 BLTTDS; Điều 100 LTTHC; Điều 39 Luật THADS thì các văn bản TPL được tống đạt bao gồm:
– Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của TAND, gồm: Giấy báo, giấy triệu tập nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Thông báo về việc thụ lý vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật; Quyết định tạm đình chỉ xét xử vụ án, Quyết định đình chỉ xét xử vụ án; Quyết định giải quyết khiếu nại… của TAND cấp cao, TAND cấp tỉnh và TAND cấp trong việc giải quyết các vụ án dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự trong vụ án hình sự và khiếu nại, tố cáo.
– Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của VKSND gồm: Quyết định kháng nghị; Quyết định rút kháng nghị, Giấy báo, giấy triệu tập đương sự để xác minh, yêu cầu cung cấp tài liệu liên quan đến vụ việc; Văn bản kiến nghị; Quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận giải quyết tố cáo; Quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại … của VKSND cấp cao, VKSND cấp tỉnh và VKSND cấp huyện trong việc giải quyết các vụ án dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự trong vụ án hình sự và khiếu nại, tố cáo.
– Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan THADS, gồm: Quyết định thi hành án; Quyết định cưỡng chế thi hành án, quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án (quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản, quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự, quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản); Quyết định hoãn thi hành án; Quyết định đình chỉ thi hành án; Quyết định xác định việc chưa có điều kiện thi hành án…; Giấy báo, giấy triệu tập người phải thi hành án, người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các văn bản thông báo khác như thông báo tạm đình chỉ thi hành án; Thông báo cưỡng chế thi hành án; Thông báo quyền ưu tiên mua tài sản chung; Thông báo kết quả thẩm định giá tài sản kê biên, quyền yêu cầu định giá lại tài sản… của Cục THADS và Chi cục THADS trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành.
1.2. Trình tự, thủ tục tống đạt:
– Thừa phát lại thực hiện tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu Tòa án, VKSND và cơ quan THADS, chủ yếu bằng 02 phương thức sau:
+ Tống đạt trực tiếp;
+ Niêm yết công khai.
Khoản 2 Điều 33 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định:
“2. Thủ tục tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng; thủ tục tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.”
Theo quy định tại Điều 175, 177, 178, 179 BLTTDS năm 2015; Điều 104, 106, 107, 108 LTTHC năm 2015; Điều 39, 40, 41, 42 Luật THADS quy định về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án, VKSND và thông báo văn bản thi hành án của cơ quan THADS được thực hiện như sau
– Thừa phát lại thực hiện tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, VKSND và cơ quan THADS cho cá nhân và cơ quan, tổ chức.
– TPL phải trực tiếp chuyển giao cho người được nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu. Người được nhận phải ký nhận vào biên bản giao giấy tờ, hồ sơ, tài liệu. Đối với văn bản của Tòa án, VKSND, thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày người nhận ký nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; đối với văn bản của cơ quan THADS, ngày người nhận ký nhận vào biên bản giao giấy tờ, hồ sơ, tài liệu là ngày thông báo hợp lệ.
– Trường hợp TPL không thể giao trực tiếp cho người được nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu thì thực hiện việc niêm yết công khai theo quy định của BLTTDS, LTTHC và Luật thi hành án dân sự.
1.3. Chi phí tống đạt:
Chi phí thực hiện tống đạt của TPL được quy định tại Điều 61, 62 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và được ghi trong hợp đồng dịch vụ tống đạt giữa Văn phòng TPL và người yêu cầu (Tòa án, VKSND, cơ quan THADS).
Chi phí tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu do Tòa án, VKSND, cơ quan THADS thỏa thuận với Văn phòng TPL trên cơ sở khung mức chi phí như sau:
– Mức tối thiểu là 65.000 đồng/việc;
– Mức tối đa là 130.000 đồng/việc;
– Đối với tường hợp tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu ngoài địa bàn cấp tỉnh hoặc ở vùng đảo, quần đảo ngoài địa bàn cấp huyện nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở thì Tòa án, VKSND, cơ quan THADS thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại về chi phí tống đạt, bao gồm:
+ Chi phí phát sinh thực tế nhưng không vượt quá chế độ công tác phí theo quy định của pháp luật áp dụng đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập;
+ Tiền công theo ngày làm việc của người thực hiện việc tống đạt nhưng không vượt quá mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.
– Chi phí tống đạt quy định tại khoản này bao gồm cả việc thực hiện niêm yết công khai trong trường hợp không thể tống đạt trực tiếp mà theo quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật thi hành án dân sự phải niêm yết công khai.
Như vậy, chi phí tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, VKSND, cơ quan THADS trên cùng địa bàn cấp tỉnh, gồm trong cùng địa bàn cấp huyện và khác địa bàn cấp huyện nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở thì Văn phòng TPL sẽ thỏa thuận với Tòa án, VKSND, cơ quan THADS với mức từ 65.000 đồng đến 130.000 đồng cho một việc tống đạt hoặc niêm yết trong trường hợp không thể tống đạt trực tiếp được theo pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật tố tụng hành chính và pháp luật THADS. Còn đối với trường hợp tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, VKSND và cơ quan THADS ngoài địa bàn cấp tỉnh hoặc ở vùng đảo, quần đảo ngoài địa bàn cấp huyện nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở thì chi phí tống đạt được thực hiện theo thỏa thuận giữa Văn phòng TPL với người yêu cầu tống đạt theo chi phí phát sinh thực tế nhưng không vượt quá chế độ công tác phí theo quy định của pháp luật áp dụng đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập và tiền công theo ngày làm việc của người thực hiện nhưng không vượt quá mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.
Chi phí tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài do Bộ Tư pháp quy định.
- Thực trạng hoạt động tống đạt của Thừa phát lại
2.1. Kết quả hoạt động của các VPTPL trong phạm vi cả nước và trên địa bàn tỉnh Bình Dương:
Chúng ta có thể tham khảo kết quả hoạt động của các VPTPL trong phạm vi cả nước và trên địa bàn tỉnh Bình Dương theo số liệu báo cáo, thống kê sau đây:
– Theo Báo cáo số 538/BC-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ Tổng kết việc triển khai tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội[1], tính đến ngày 30/9/2015, cả nước có 13 địa phương, với 53 VPTPL. Về hoạt động, các VPTPL đã tống đạt được 939.544 văn bản, lập 42.911 vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án 885 vụ việc, trực tiếp tổ chức thi hành án 378 vụ việc, đạt tổng doanh thu là 135 tỷ 862 triệu 202 nghìn đồng. Trong các mảng công việc, hoạt động tống đạt chiếm tỷ trọng lớn với 939.544 văn bản được tống đạt và doanh thu gần 70 tỷ đồng (chiếm 51 % tổng doanh thu); kế đến là hoạt động lập vi bằng với 42.911 vi bằng được lập và doanh thu gần 59 tỷ đồng (chiếm 43 % tổng doanh thu). Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án chiếm tỷ trọng nhỏ với 885 vụ việc xác minh và 378 vụ việc trực tiếp tổ chức thi hành án, doanh thu của 02 loại công việc trên mới đạt gần 8 tỷ đồng (chiếm 6% tổng doanh thu).
Hiện nay, số lượng VPTPL được thành lập, số lượng vụ việc, đặc biệt là việc tống đạt, lập vi bằng đã được TPL thực hiện trên phạm vi cả nước đã có nhiều thay đổi (đến 31/3/2023 có 417 TPL; 181 VPTPL được thành lập và hiện nay, số lượng VPTPL được thành lập tăng lên nhiều hơn).
– Tại tỉnh Bình Dương: có 09 huyện, thành phố, 05 Văn phòng Thừa phát lại được thành lập tại thành phố Thủ Dầu Một, thành phố Thuận An, thành phố Dĩ An, thành phố Tân Uyên, thành phố Bến Cát (thành lập và đi vào hoạt động sớm nhất là VPTPL Dĩ An, thành lập ngày 17/01/2014 và muộn nhất là VPTPL Bến Cát thành lập ngày 26/12/2017).
+ Từ khi được thành lập, hoạt động (tháng 01/2014) đến ngày 30/6/2016: lúc này, tại Bình Dương có 04 VPTPL, sau hơn 02 năm hoạt động, các VPTPL đã đạt được kết quả sau:
- Tống đạt văn bản giấy tờ: 43.182 văn bản (trong đó, tống đạt văn bản của Tòa án là 35.037 văn bản; cơ quan Thi hành án dân sự là 8.145 văn bản);
- Lập vi bằng: 3.366 vi bằng;
- Xác minh điều kiện thi hành án: 81 vụ việc;
- Tổ chức thi hành án: 33 vụ việc, với giá trị thi hành án là 9.854.479.605 đồng và 7.568,5m2đất.
Qua đó, cho thấy giai đoạn đầu (từ khi mới thành lập đến năm 2016), số vụ việc Văn phòng TPL tống đạt chiếm số lượng nhiều (43.182 văn bản, bình quân, mỗi năm một Văn phòng TPL thực hiện tống đạt khoảng 5.400 văn bản).
+ Từ năm 2017 đến năm 2019: năm 2018, tỉnh Bình Dương có thêm 01 Văn phòng TPL (nâng lên là 05 VPTPL), từ năm 2017 đến năm 2019, tất cả VPTPL tại Bình Dương vẫn duy trì hoạt động tống đạt văn bản cho Tòa án và cơ quan THADS như giai đoạn 2014 đến 2016.
+ Từ khi Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có hiệu lực đến nay, 05 VPTPL tại Bình Dương tống đạt: 90.939 văn bản (03 năm từ ngày 24/2/2020 đến ngày 31/3/2023) 05 VPTPL tống đạt: 74,592 văn bản; năm 2024 (từ 01/10/2023 đến 30/9/2024), 04 VPTPL tống đạt: 16.347 văn bản); chưa phát sinh yêu cầu tống đạt cho cơ quan THADS và VKSND. Tống đạt văn bản của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Thuận An, Dĩ An, Tân Uyên và Bến Cát. Đến năm 2024, có 4/5 VPTPL vẫn duy trì hoạt động tống đạt (1/5VPTPL không thực hiện hoạt động tống đạt); bình quân, mỗi năm, một Văn phòng TPL thực hiện tống đạt khoảng từ 4.000 văn bản đến 5.000 văn bản. Nguồn kinh phí của Tòa án thực hiện tống đạt: những năm gần đây, mỗi năm, Tòa án tỉnh Bình Dương cấp khoảng 600.000.000đồng; Tòa án của 05 thành phố của tỉnh, được cấp từ 250.000.000đồng đến 400.000.000đồng.
– Đối với VPTPL Bến Cát: từ khi Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có hiệu lực (ngày 24/2/2020) đến 30/9/2024, VPTPL Bến Cát tống đạt: 19.404 văn bản (bình quân, mỗi năm một Văn phòng TPL thực hiện tống đạt khoảng từ 4.000 văn bản đến 5.000 văn bản). Trong đó, chủ yếu là tống đạt văn bản của TAND thị xã (nay là thành phố) Bến Cát (riêng năm 2024 có tống đạt 34 văn bản của Cục THADS tỉnh Bình Dương). Những năm gần đây, mỗi năm, Tòa án thành phố Bến Cát được cấp kinh phí tống đạt là: 250.000.000đồng.
Qua kết quả thống kê cho thấy, sau hơn 04 năm triển khai thi hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn hướng dẫn thi hành, các quy định pháp luật đã tạo tiền đề pháp lý thuận lợi cho hoạt động Thừa phát lại nói chung và hoạt động tống đạt của TPL nói riêng tiếp tục phát triển và đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, hoạt động tống đạt của TPL trong thời gian qua, chủ yếu là tống đạt văn bản của Tòa án (tống đạt văn bản của cơ quan THADS với số lượng rất ít và chưa thực hiện tống đạt văn bản của VKSND và văn bản có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài); có mở rộng tống đạt thêm cho nhiều Tòa án, ở nhiều địa phương khác nhau, điều này, giúp giảm tải công việc, từ đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xét xử của Tòa án. Bên cạnh hoạt động lập vi bằng, thì tống đạt cũng là hoạt động mang lại doanh thu cho các VPTPL.
Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động tống đạt của TPL, cũng bộc lộ nhiều hạn chế, khó khăn, vướng mắc, cần được xem xét, giải quyết để hoạt động này ngày càng phát triển và mang lại nhiều kết quả tốt đẹp hơn.
2.2. Những khó khăn, vướng mắc của Thừa phát lại trong hoạt động tống đạt:
2.1.1. Kinh phí thực hiện tống đạt:
* Đối với Tòa án:
Nguồn kinh phí được cấp không đủ phục vụ nhu cầu tống đạt nên một phần phí tống đạt phải nợ chuyển sang năm tiếp theo; công việc tống đạt không được thực hiện thường xuyên.
Hiện nay, nguồn kinh phí Tòa án được cấp chỉ đáp ứng được khoảng 70% yêu cầu tống đạt. Thông thường thì khoảng tháng 2 hàng năm, Tòa án địa phương được cấp kinh phí tống đạt. Nguồn kinh phí này được Tòa án sử dụng thanh toán chi phí tống đạt từ tháng 01 đến khoảng giữa tháng 8 hoặc đầu tháng 9 là hết kinh phí; những tháng còn lại trong năm, không còn kinh phí tống đạt. Do thời điểm tháng 9 là tháng cuối năm công tác của ngành Tòa án, cho nên phần lớn, Tòa án rất mong muốn TPL tiếp tục tống đạt văn bản cho mình, tuy nhiên có trường hợp Tòa án có nhu cầu tống đạt và chấp nhận nợ tiền tống đạt, thì VPTP vẫn thực hiện tống đạt (kéo dài thêm cho đến cuối tháng 9 hoặc giữa tháng 10, sau đó tạm dừng cho đến đầu năm sau mới thực hiện lại) và cho Tòa án nợ tiền tống đạt cho đến tháng 2 năm sau (nợ khoảng 05 tháng), khi Tòa án được cấp kinh phí mới của năm sau sẽ thanh toán khoản nợ này, nhằm giúp Tòa án đẩy nhanh tiến độ giải quyết án, hoàn thành nhiệm vụ, đạt chỉ tiêu thi đua của năm công tác; ngược lại, có Tòa án không chấp nhận nợ tống đạt, thì việc tống đạt tạm dừng ngay khi hết kinh phí tống đạt. Bên cạnh đó, việc Tòa án phân bổ nguồn kinh phí thực hiện tống đạt, hàng tháng, không đồng đều, đã dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí cho những tháng cuối năm; số lượng văn bản chuyển giao, những tháng đầu năm ít, nhưng cuối năm thì quá nhiều (thường tập trung số lượng lớn vào những tháng cuối năm (từ tháng 7 đến tháng 9), điều này đã gây nhiều khó khăn và áp lực cho các VPTPL trong việc bố trí nhân sự thực hiện tống đạt vào những tháng cuối năm.
Mặt khác, khi nguồn kinh phí tống đạt không đủ hoặc còn ít, thì có trường hợp, Tòa án sẽ có sự lựa những trường hợp khó khăn, phức tạp hoặc có khả năng phải niêm yết, thì Tòa án sẽ chuyển giao cho VPTPL tống đạt; những trường hợp dễ, đương sự hợp tác thì Tòa án tự thực hiện tống đạt.
Từ đó cho thấy, hoạt động tống đạt văn bản của TPL không được ổn định và thường xuyên (có lúc có, lúc không, lúc nhiều, lúc ít). Trong khi đó, để duy trì được hoạt động tống đạt (thu được chi phí đủ trang trải cho hoạt động) thì VPTPL cần nhận được số lượng văn bản tống đạt lớn, hoạt động tống đạt phải được thực hiện thường xuyên và ổn định.
* Đối với cơ quan THADS và VKSND:
– Tống đạt văn bản của cơ quan THADS với số lượng rất ít và chưa thực hiện tống đạt văn bản của VKSND. Nguyên nhân: chưa được cấp kinh phí để thực hiện tống đạt.
2.1.2. Mức chi phí tống đạt thấp:
– Mức chi phí tống đạt theo quy định tại khoản 2 Điều 62 hiện nay là ở mức thấp. Mức chi phí này đã được quy định từ năm 2014 (tại Thông tư liên tịch số 09 /2014/TTLT-BTP- TANDTC- VKSNDTC- BTC ngày 28/02/2014 của Bộ Tư pháp – Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Tài chính), đến nay đã 10 năm nhưng không thay đổi, hiện nay mức chi phí tống đạt này đã không còn phù hợp. Tại VPTPL Bến Cát, vừa qua, mức chi phí tống đạt trong phạm vi thành phố Bến Cát và trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi có đề nghị và được Tòa án chấp nhận tăng lên (theo mức: trong phạm vi thành phố Bến Cát là 80.000đồng/việc; thành phố Hồ chí Minh là 330.000đồng/việc) nhưng vẫn còn ở mức thấp; đặc biệt mức chi phí tống đạt đối với trường hợp ngoài phạm vi thành phố Bến Cát nhưng trong địa bàn tỉnh Bình Dương theo quy định hiện nay là 130.000đ/việc là quá thấp (mức này là mức tối đa theo quy định nên không đề nghị tăng thêm được). Nhiều trường hợp tống đạt: khoảng cách địa lý xa; địa chỉ người được tống đạt phần lớn không rõ ràng, người được tống đạt phần lớn là dân nhập cư, thường xuyên thay đổi chỗ ở; một số doanh nghiệp có địa chỉ đăng ký kinh doanh không rõ ràng, không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh; một số trường hợp người được tống đạt không hợp tác, có hành vi cản trở, xúc phạm người thực hiện tống đạt; nhiều trường hợp phải cần sự hỗ trợ, phối hợp của đại diện Tổ dân phố, khu phố, ấp và chính quyền địa phương, phải đi lại nhiều lần dẫn đến mức phí không đủ cho chi phí tống đạt.
2.1.3. Thủ tục tống đạt:
Một số quy định pháp luật về trình tự thủ tục tống đạt văn bản tố tụng và văn bản thi hành án có sự không thống nhất với nhau; trường hợp người được tống đạt từ chối thì biên bản phải có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an cấp xã hay phải có chữ ký của người chứng kiến; trường hợp niêm yết công khai phải có xác nhận (chữ ký) của người chứng kiến, điểu này đã gây nhiều khó khăn cho TPL, Thư ký nghiệp vụ trong quá trình thực hiện hoạt động tống đạt, cụ thể:
* Đối với trường hợp người được tống đạt từ chối:
– Trường hợp tống đạt văn bản của Tòa án, VKSND trực tiếp cho cá nhân:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 177 BLTTDS và khoản 3 Điều 106 LTTHC: người được nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có mặt tại địa chỉ tống đạt nhưng người đó từ chối ký hoặc từ chối nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu thì TPL phải lập biên bản về việc từ chối nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu và nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu. Biên bản này sẽ được chuyển cho Tòa án, VKSND đã yêu cầu tống đạt để lưu trong hồ sơ vụ án.
– Trường hợp tống đạt văn bản của Tòa án, VKSND trực tiếp cho cơ quan, tổ chức:
Tại khoản 2 Điều 178 BLTTDS quy định: “2. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo từ chối nhận văn bản tố tụng hoặc vắng mặt thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 177 của Bộ luật này.”
Tại khoản 4, 5 Điều 177 BLTTDS năm 2015 quy định:
“4. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo từ chối nhận văn bản tố tụng thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.
- Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc để thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt, thông báo. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.
Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt ở nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi cư trú mới của họ thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn; đồng thời, thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản cần tống đạt theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật này. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.”
(LTTHC không quy định đối với trường hợp cơ quan, tổ chức từ chối nhận văn bản tố tụng hoặc vắng mặt).
Quy định tại khoản 2 Điều 178 BLTTDS nêu trên là dẫn chiếu đến trường hợp tống đạt cho cá nhân, theo đó, trường hợp tống đạt cho cơ quan, tổ chức mà từ chối nhận văn bản tố tụng hoặc vắng mặt thì thực hiện giống đối với trường hợp tống đạt cho cá nhân. Trong đó, có trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo (là cơ quan, tổ chức) vắng mặt thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ. Chúng tôi cho rằng quy định này không phù hợp, bởi cơ quan, tổ chức thì không đặt ra vấn đề người thân thích. Do vậy, trên thực tiễn vẫn có nhiều quan điểm và cách thực hiện khác nhau đối với trường hợp này.
– Trường hợp tống đạt văn bản của cơ quan THADS trực tiếp cho cá nhân:
Tại khoản 4 Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP: “4. Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan từ chối không nhận thông báo thì người thực hiện thông báo trực tiếp phải lập biên bản, có chữ ký của người chứng kiến và việc thông báo được coi là hợp lệ.”
Theo đó, đối với trường hợp tống đạt văn bản của Tòa án, VKSND trực tiếp cho cá nhân mà người được tống đạt từ chối, thì biên bản tống đạt phải có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an cấp xã; đối với trường hợp tống đạt văn bản của cơ quan THADS trực tiếp cho cá nhân mà người được tống đạt từ chối thì biên bản tống đạt phải có chữ ký của người chứng kiến (văn bản pháp luật về THADS không quy định rõ “người chứng kiến” cụ thể là ai. Tuy nhiên, trên thực tế biên bản này phải để có xác nhận của UBND cấp xã nơi thực hiện tống đạt, vì vậy người chứng kiến thường là đại diện tổ dân phố hoặc khu phố, ấp; tương tự như tống đạt văn bản của cơ quan THADS, trường hợp tống đạt văn bản của Tòa án, VKSND, nếu biên bản tống đạt đối với trường hợp người được tống đạt từ chối có xác nhận của đại diện tổ dân phố thì cũng phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi thực hiện tống đạt (tức là phải trải qua 02 cấp xác nhận).
* Đối với trường hợp niêm yết công khai:
Việc niêm yết công khai giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, VKSND được thực hiện theo quy định tại Điều 179 BLTTDS năm 2015 và Điều 108 LTTHC năm 2015; việc niêm yết công khai giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan THADS được thực hiện theo quy định tại Điều 42 Luật THADS.
Thủ tục niêm yết giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, VKSND cũng khác so với thủ tục niêm yết giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan THADS. Nếu như thủ tục niêm yết công khai giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan THADS bắt buộc phải có người chứng kiến và người chứng kiến phải ký, ghi rõ họ, tên trong biên bản niêm yết và thời hạn niêm yết là 10 ngày, kể từ ngày niêm yết thì thủ tục niêm yết công khai giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, VKSND không đề cập đến người chứng kiến và thời hạn niêm yết là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết.
Tuy nhiên, tại biểu mẫu TP-TPL-N-03 ban hành kèm theo Thông tư số 05/2020/TT-BTP (Biên bản niêm yết công khai giấy tờ, hồ sơ, tài liệu) thì có mục “Người chứng kiến”.
Đối với thủ tục niêm yết công khai giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan THADS sử dụng Mẫu số: D37-THADS Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP, thì ghi “Người làm chứng” (biểu mẫu không thống nhất với quy định tại Điều 42 Luật THADS (quy định “Người chứng kiến”).
Vì vậy trên thực tế hiện nay, khi thực hiện thủ tục niêm yết giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, VKSND, cơ quan THADS TPL vẫn yêu cầu người chứng kiến ký và ghi rõ họ tên vào biên bản niêm yết (bên cạnh đó, cơ quan yêu cầu tống đạt cũng yêu cầu TPL thực hiện nội dung này).
2.1.5. Việc phối hợp trong hoạt động tống đạt:
Như phần trên đã đề cập là: trường hợp người được tống đạt từ chối thì biên bản phải có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an cấp xã hay phải có chữ ký của người chứng kiến; trường hợp niêm yết công khai phải có xác nhận (chữ ký) của người chứng kiến; bên cạnh đó, việc niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của cá nhân, nơi có trụ sở hoặc trụ sở cuối cùng của cơ quan, tổ chức được nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu. Do vậy, hoạt động tống đạt cần có sự phối hợp từ phía (tức là phải có sự phối hợp từ đại diện tổ dân phố, khu phố, ấp, Công an cấp xã, UBND cấp xã).
Hiện nay, việc lấy được xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an cấp xã hay xác nhận (chữ ký) của người chứng kiến là rất khó khăn; có khoảng 50% là lực lượng nêu trên có trực tiếp tham gia cùng với TPL, Thư ký nghiệp vụ (sau đây gọi là người thực hiện tống đạt) khi thực hiện tống đạt; phần còn lại họ không thể trực tiếp tham gia cùng người thực hiện tống đạt khi thực hiện tống đạt mà họ chỉ cung cấp thông tin (nơi cư trú) cho người thực hiện tống đạt và nhận thông tin từ người thực hiện tống đạt về việc người được tống đạt từ chối hoặc lý do không thực hiện được tống đạt trực tiếp để tiến hành niêm yết công khai và thực hiện xác nhận (ký tên vào biên bản với tư cách người chứng kiến), điều này là không đúng trình tự thủ tục tống đạt và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hoạt động tống đạt của TPL.
Việc phối hợp giữa TPL và diện tổ dân phố, khu phố, ấp, Công an và UBND cấp xã trong hoạt động tống đạt gặp khó khăn, nhận thấy có những nguyên nhân sau:
– Số lượng văn bản tống đạt cần có sự phối hợp và xác nhận từ phía đại diện tổ dân phố, khu phố, ấp, Công an cấp xã, UBND cấp xã là rất nhiều, trong khi đó những lực lượng nêu trên họ đang gặp nhiều áp lực, quá tải trong công việc (đặc biệt là tại những địa phương có điều kiện kinh tế phát triển thì càng khó khăn hơn, do họ quá tải công việc nhiều hơn; riêng TPHCM thì càng khó khăn hơn, do thực hiện Nghị quyết 11/NQ-HĐND TP. HCM năm 2024 về thành lập, chia tách, sáp nhập, đổi tên khu phố, ấp, theo đó bộ máy khu phố, ấp được tinh gọn lại, mỗi khu phố, ấp; chỉ còn có 03 chức danh (gồm: Bí thư chi bộ, Trưởng khu phố – ấp và Trưởng ban công tác mặt trận (theo đó không còn Tổ dân phố, trong khi đó mỗi khu phố, ấp có từ 350 hô đến 500 hộ).
– Quy định của pháp luật về công tác phối hợp hiện nay còn mang tính chất chung chung; không quy định rõ trách nhiệm và chế tài xử lý đối với những cá nhân, cơ quan chức năng có liên quan trong việc phối hợp với TPL thực hiện việc tống đạt. Do vậy, TPL phải rất cố gắng, nỗ lực trong việc nhờ các lực lượng: tổ dân phố, khu phố, ấp, Công an cấp xã, UBND cấp xã hỗ trợ việc tống đạt và thường xuyên bị từ chối, với lý do quá tải trong công việc;
Tại Điều 5 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định:
“1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, cá nhân, cơ quan, tổ chức phối hợp với Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại trong việc thực hiện các công việc của Thừa phát lại theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan; không được tiết lộ thông tin về việc thực hiện công việc của Thừa phát lại, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
- Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại, từ chối trái pháp luật yêu cầu của Thừa phát lại hoặc tiết lộ thông tin về việc thực hiện công việc của Thừa phát lại đều bị xử lý theo quy định của pháp luật và phải bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định của pháp luật.”
Tuy nhiên, quy định trên chỉ mang tính chất chung chung, không rõ ràng, cụ thể (quy định việc phối hợp, hỗ trợ chung chung, không xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc phối hợp; thời hạn hoàn thành; chưa quy định chế tài xử lý đối với trường không phối hợp; trách nhiệm cụ thể mà cá nhân, cơ quan, tổ chức phải gánh chịu nếu họ không phối hợp hoặc việc phối hợp không kịp thời, chặt chẽ, cung cấp thông tin không đúng,…). Trên thực tế, kết quả của việc phối hợp phụ thuộc hoàn toàn vào tinh thần trách nhiệm, thái độ làm việc có các cá nhân, tổ chức có chức năng phối hợp nêu trên.
– Bên cạnh đó, có một số trường hợp, đại diện Công an, khu phố ấp không biết đến chức năng, thẩm quyền tống đạt của TPL hoặc cho rằng VPTPL là doanh nghiệp và hoạt động của TPL là tư nhân nên không đồng ý phối hợp;
* Về người thân thích:
Hiện nay, BLTTDS năm 2015 và LTTHC năm 2015 chưa quy định khái niệm “người thân thích”. Một số văn bản pháp luật khác có quy định về người thân thích, tuy nhiên lại có sự không đồng nhất với nhau, cụ thể:
– Theo quy định tại khoản 19 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời” để xác định người thân thích được nhận thay cho người được nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu tống đạt.
– Điều 13 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thảm phán TANDTC quy định như sau:
“1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLTTDS thì người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu họ là người thân thích của đương sự (bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trong vụ án dân sự.
- Người thân thích của đương sự là người có quan hệ sau đây với đương sự:
- a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của đương sự;
- b) Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của đương sự;
- c) Là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của đương sự;
- d) Là cháu ruột của đương sự, mà đương sự là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột”.
– Khoản 2 Điều 40 Luật THADS năm 2008:
“2. Trường hợp người được thông báo vắng mặt thì văn bản thông báo được giao cho một trong số những người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với người đó, bao gồm vợ, chồng, con, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, cậu, dì, anh, chị, em của đương sự, của vợ hoặc chồng của đương sự.”
– Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP:
“4. Trong khi thực thi nhiệm vụ, Thừa phát lại không được nhận làm những việc liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người thân thích của mình, bao gồm: Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Thừa phát lại, của vợ hoặc chồng của Thừa phát lại; cháu ruột mà Thừa phát lại là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.” (tương tự quy định tại Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP).
2.1.4. Nhân sự thực hiện tống đạt:
– Không thu hút được nguồn nhân sự có trình độ trung cấp luật:
Tại khoản 3 Điều 17 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: “Thư ký nghiệp vụ Thừa phát lại phải có các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 6 của Nghị định này, phải có trình độ từ trung cấp luật trở lên và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 11 của Nghị định này.”
Tuy nhiên, hiện nay hầu hết Thư ký nghiệp vụ đều có trình độ cử nhân luật; nguồn nhân sự có trình độ trung cấp luật trên thực tế rất ít nên các VPTPL không tuyển dụng được nguồn nhân sự có trình độ trung cấp luật.
– Nhân sự thực hiện tống đạt không gắn bó lâu dài: các gia đình hiện hay chỉ có từ 1 – 2 con nên Thư ký nghiệp vụ thuộc trường hợp là người con một hoặc con thứ hai của gia đình; phần lớn, các em Thư ký nghiệp vụ thuộc trường hợp được bảo bọc, chăm sóc kỹ nên không chịu được áp lực, vất vả. Trong khi đó, công việc tống đạt rất kho khăn, phức tạp và vất vả, đòi hỏi phải đi lại, di chuyển rất nhiều ở bên ngoài (gặp nắng, mưa); người được tống đạt không hợp tác,..; việc phối hợp không thuận lợi, mức chi phí tống đạt thấp,…dẫn đến việc nhân sự thực hiện tống đạt không gắn bó lâu dài (chỉ làm việc tại các VPTPL trong thời gian đầu mới ra trường, chưa có việc làm; khi làm được một thời gian, có kinh nghiệm thì xin nghỉ).
Nhưng điều này, làm cho việc bố trí, sắp xếp nguồn nhân lực thực hiện tống đạt của các VPTPL gặp rất nhiều khó khăn.
2.1.5. Phạm vi tống đạt:
– Theo quy định tại Điều 33 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, thì: “Thừa phát lại tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự trong vụ án hình sự và khiếu nại, tố cáo; tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở theo hợp đồng dịch vụ tống đạt được ký kết giữa Văn phòng Thừa phát lại với Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự”. Trên thực tiễn có nhiều trường hợp, Tòa án ở các tỉnh khác (ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ), có yêu cầu VPTPL tại một tỉnh nào đó tống đạt thực hiện tống đạt, thì vướng quy định trên nên không thực hiện được.
Bên cạnh đó, hiện nay TPL chỉ có thẩm quyền tống đạt văn bản của Tòa án, VKSND, cơ quan THADS và văn bản có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài); văn bản của cá nhân hay cơ quan, tổ chức khác thì TPL không có thẩm quyền tống đạt.
- Đề xuất, kiến nghị:
- Đề nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định có liên quan đến cấp, tống đạt, thông báo được luật tố tụng (BLTTDS năm 2015 và LTTHC 2015) và Luật THADS như sau:
– Bỏ quy định về thủ tục đối với trường hợp người được tống đạt từ chối thì biên bản phải có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an cấp xã (đối với tống đạt văn bản tố tụng) hay chữ ký của người chứng kiến (đối với tống đạt văn bản thi hành án);
– Bỏ nội dung quy định tại khoản 2 Điều 178 BLTTDS đối với trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo là cơ quan, tổ chức vắng mặt thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ (vì cơ quan tổ chức không có người thân thích).
– Bỏ quy định về thủ tục đối với trường hợp niêm yết công khai thì biên bản phải có xác nhận của người chứng kiến (bỏ nội dung được quy định trong văn bản pháp luật và trên biểu mẫu “Biên bản niêm yết công khai”;
– Bổ sung quy định trong luật tố tụng về chi phí tống đạt thuộc chi phí tố tụng và đương sự có nghĩa vụ nộp một phần chi phí này (tương tự như pháp luật THADS, nhằm chia sẻ một phần kinh phí từ Ngân sách nhà nước).
- Đề nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định có liên quan đến tống đạt được Nghị định số 08/2020/NĐ-CP như sau:
– Quy định chặt chẽ, xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ phối hợp và quy định chế tài xử lý đối với trường hợp không phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tống đạt, thông báo về THA;
– Đề nghị thay đổi khung mức chi phí tống đạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 62 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, theo đó tăng mức tối thiểu từ 65.000 đồng/việc lên 100.000đồng/việc và mức tối đa từ 130.000 đồng/việc lên 200.000đồng/việc.
– Mở rộng phạm vi tống đạt của TPL, theo đó: Thừa phát lại tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan THADS ở ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở theo hợp đồng dịch vụ tống đạt được ký kết giữa Văn phòng Thừa phát lại với các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự. Bên cạnh việc tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự; giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, thì TPL còn có thẩm quyền tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của một số cá nhân, cơ quan, tổ chức khác như: Doanh nghiệp, Ngân hàng, cơ quan Thuế, Hải quan, Đấu giá, Quản tài viên, … theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo hợp đồng dịch vụ tống đạt được ký kết giữa Văn phòng Thừa phát lại với cá nhân, cơ quan, tổ chức;
– Bên cạnh đó, các Sở Tư pháp, VPTPL tiếp tục tuyên truyền, giới thiệu sâu rộng về TPL, đặc biệt là chức năng nhiệm vụ quyền hạn của TPL (trong đó có thẩm quyền tống đạt văn bản) để mọi người có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của TPL. Mặt khác, đội ngũ TPL cần tăng cường học tập, nghiên cứu, tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ để nâng cao trình độ chuyến môn nghiệp vụ, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của TPL./.
[1] https://quochoi.vn/content/vankien/Lists/DanhSachVanKien/Attachments/3126/A21.01_bc538%20tong%20ket%20thhien%20che%20dinh%20TPL.doc